Sign up

[ Chung ] 21 December, 2011 02:19

Jinpeng An bảo vệ Ph.D. năm 2006 tại Đại học Bắc Kinh, luận án "Twisted Conjugate Actions of Lie Groups and Nonabelian Cohomology" được viết dưới sự hướng dẫn của GS. Zheng-Dong Wang.

“…Mẹ ít văn hoá, nhưng mẹ nhớ khi nhỏ được thầy giáo dạy là: "Golgi có nói, "Nghèo đói là trường đại học tốt nhất". Nếu con có thể tốt nghiệp trường đại học này, thì những trường đại học như Thiên Tân, Bắc Kinh con chắc chắn đều đỗ…”.

Ngày 5/9/1997, là ngày tôi rời gia đình đi nhập học ở Đại học Bắc Kinh, khoa Toán. Ngọn khói bếp dài cất lên từ trên nóc ngôi nhà nông dân cũ nát gia đình tôi. Người mẹ chân thập thễnh của tôi đang nấu mì sợi cho tôi, những bột mì này có được nhờ mẹ đổi năm quả trứng gà cho hàng xóm, chân mẹ bị thương vì mấy hôm trước, để thêm tí tiền cho tôi nhập học, mẹ đẩy một xe chất đầy rau từ thôn ra thị trấn, trên đường bị trật chân.

Bưng bát mì, tôi đã khóc. Tôi buông đũa quỳ xuống đất, xoa nắn chỗ chân sưng phồng lên to hơn cả cái bánh bao của mẹ, nước mắt rơi xuống đất… Nhà tôi ở Thiên Tân, làng Đại Hữu Đới, huyện Vũ Thanh, tôi có một người mẹ tốt nhất thế gian tên là Lý Diệm Hà. Nhà tôi vô cùng nghèo khó.

Khi tôi ra đời, bà nội ngã bệnh ngay trên giường sưởi, tôi bốn tuổi, ông nội lại mắc bệnh hẹp khí quản và bán thân bất toại, những món nợ trong nhà lớn dần theo năm. Khi bảy tuổi, tôi được đi học, học phí là mẹ vay người khác. Tôi thường đi nhặt những mẩu bút chì bạn bè vứt đi, dùng dây buộc nó lên một cái que rồi viết tiếp, hoặc dùng một cái dây chun xoá sạch những cuốn vở bài tập đã viết, rồi viết lại lên đó, mẹ thương tôi đến mức, cũng có lúc đi vay vài hào của hàng xóm để mua vở và bút chì cho tôi. Nhưng cũng có những khi mẹ vui vẻ, là khi bất kể bài kiểm tra nhỏ hay kỳ thi lớn, tôi luôn đứng đầu, toán thường được 100/100 điểm. Dưới sự khích lệ của mẹ, tôi càng học càng thấy ham thích. Tôi thực sự không hiểu trên đời còn có gì vui sướng hơn được học hành. Chưa đi học lớp một tôi đã thông thạo cộng trừ nhân chia và phân số, số phần trăm; khi học Tiểu học tôi đã tự học để nắm vững Toán Lý Hoá của bậc Trung học Phổ thông; Khi lên trung học, thành phố Thiên Tân tổ chức kỳ thi vật lý của bậc Trung học, tôi là đứa học trò nông thôn duy nhất của cả năm huyện ngoại thành Thiên Tân được giải, một trong ba người đỗ đầu. Tháng 6 năm đó, tôi được đặc cách vào thẳng trường Trung học số 1 danh tiếng của Thiên Tân, tôi vui sướng chạy như bay về nhà.

Nào ngờ, khi tôi báo tin vui cho cả nhà, mặt bố mẹ chất chứa toàn những đau khổ; bà nội vừa mất nửa năm, ông nội đang gần kề cái chết, nhà tôi đã mắc nợ tới hơn mười nghìn Nhân dân tệ rồi. Tôi lặng lẽ quay về bàn học, nước mắt như mưa suốt một ngày. Đến tối, tôi nghe thấy ở ngoài nhà có tiếng ồn ào. Thì ra mẹ tôi đang định dắt con lừa con của nhà đi bán, cho tôi đi học, nhưng ba tôi không chịu. Tiếng ồn ào làm ông nội nghe thấy, ông đang bệnh nặng, trong lúc buồn bã ông đã lìa đời. Sau lễ an táng ông nội, nhà tôi lại mắc thêm vài nghìn tệ tiền nợ nữa.

Tôi không còn dám nhắc đến việc đi học nữa, tôi cất “Giấy báo nhập học” thật kỹ vào vỏ gối, hàng ngày tôi ra đồng làm việc cùng mẹ. Sau hai hôm, tôi và ba tôi cùng lúc phát hiện ra: con lừa con biến mất rồi. Ba tôi sắt mặt lại, hỏi mẹ tôi: “Bà bán con lừa con rồi à? Bà bị thần kinh à? Sau này lấy gì kéo, lương thực hoa màu bà đẩy xe tay nhé, bà tự cõng nhé? Bà bán lừa một hai trăm bạc liệu cho nó học được một học kỳ hay là hai học kỳ?” Hôm đó mẹ tôi khóc, mẹ tôi dùng một giọng rất dữ dội rất hung dữ để gào lại ba tôi: “Con cái mình đòi đi học thì có gì sai? Nó thi lên được trường số 1 của thành phố nó là đứa duy nhất của cả huyện này đấy, tôi không thể để cho tiền đồ của nó bị lỡ dở được. Tôi sẽ dùng tay đẩy, dùng lưng vác, để cho nó đi học…”

Cầm sáu trăm tệ mẹ vừa bán lừa, tôi thật sự chỉ muốn quỳ xuống dập đầu trước mẹ. Tôi đã thích được học quá rồi, mà còn học tiếp, thì mẹ sẽ khổ sở bao nhiêu, vất vả bươn chải thêm bao nhiêu? Mùa thu năm đó tôi quay về nhà lấy áo lạnh, thấy mặt ba tôi vàng như sáp, gầy da bọc xương đang nằm trên giường sưởi. Mẹ bình thản bảo: “Có gì đâu, bị cảm, sắp khỏi rồi”. Ai ngờ, hôm sau tôi xem vỏ lọ thuốc của ba, thì thấy đó là thuốc ngăn ngừa tế bào ung thư phát triển. Tôi kéo mẹ ra ngoài nhà, khóc hỏi mẹ mọi chuyện là thế nào, mẹ bảo, từ sau khi tôi đi học, ba bắt đầu đi ngoài ra máu, ngày càng nặng lên. Mẹ vay sáu nghìn tệ đưa ba lên Thiên Tân, Bắc Kinh đi khắp nơi, cuối cùng xác định là u nhu ruột bowel polyps, bác sĩ yêu cầu ba phải mổ gấp. Mẹ chuẩn bị đi vay tiền tiếp, nhưng ba kiên quyết không cho. Ông nói, bạn bè họ hàng đã vay khắp lượt rồi, chỉ vay mà không trả thì còn ai muốn cho mình vay nữa! Hàng xóm kể với tôi: Mẹ dùng một phương pháp nguyên thuỷ và bi tráng nhất để gặt lúa mạch. Mẹ không đủ sức gánh lúa mạch ra sân kho để tuốt hạt, mẹ cũng không có tiền thuê người giúp, mẹ bèn gặt dần, lúa mạch chín chỗ nào gặt chỗ đó, sau đó dùng xe cải tiến chở về nhà, tối đến mẹ trải một tấm vải nhựa ra sân, dùng hai tay nắm từng nắm lúa mạch đập lên một hòn đá to…Lúa mạch trồng trên ba mẫu đất của nhà, một mình mẹ làm, mệt đến mức không đứng dậy nổi nữa thì mẹ ngồi xổm xuống cắt, đầu gối quỳ còn chảy máu, đi đường cứ cà nhắc…Không đợi hàng xóm kể hết, tôi chạy như bay về nhà, khóc to gọi mẹ:

“Mẹ, mẹ, con không thể đi học nữa đâu…”. Kết quả, mẹ vẫn tống tôi lên trường. Tiền sinh hoạt phí mỗi tháng của tôi chỉ 60 đến 80 tệ (tương đương 120-160.000 VND), thật thảm hại nếu so với những người bạn học khác mỗi tháng có 200-240 tệ. Nhưng chỉ mình tôi biết, món tiền nhỏ này mẹ tôi cũng phải tằn tiện lắm, từ ngày đầu tháng đã dành từng hào từng hào, bán từng quả trứng gà, rau xanh lấy từng đồng từng đồng, có lúc dành dụm không đủ đã phải giật tạm vài đôi chục. Mà cha tôi, em trai tôi, dường như chẳng bao giờ có thức ăn, nếu nhà ăn rau cũng chẳng dám xào mỡ, chỉ chan tí nước dưa muối ăn qua bữa. Mẹ không muốn tôi đói, mỗi tháng mẹ chăm chỉ đi bộ hơn mười cây số mua mì tôm với giá bán buôn. Rồi mỗi cuối tháng, mẹ vất vả cõng một túi nặng lên Thiên Tân thăm tôi. Trong túi ấy ngoài những gói mì tôm ra, còn có nhiều xếp giấy loại mẹ phải đi bộ ra một xưởng in ngoài thị trấn cách nhà 6km để xin cho tôi (đó là giấy để tôi làm nháp toán), cả một chai tương cay rất to, cải bẹ muối thái sợi, và cả một cái tông đơ để cắt tóc. (Cắt tóc nam rẻ nhất Thiên Tân cũng phải 5 tệ, mẹ muốn tôi dành tiền cắt tóc để mua thêm lấy vài cái bánh bao mà ăn). Tôi là học sinh cấp 3 duy nhất của Thiên Tân đến cả rau ở bếp ăn nhà trường cũng không mua nổi, chỉ có thể mua vài cái bánh bao, mang về ký túc ăn cùng mì sợi khô hoặc chấm với tương ớt, kẹp dưa muối để ăn qua bữa. Tôi cũng là học sinh duy nhất không có giấy kiểm tra, chỉ có thể tận dụng giấy một mặt của xưởng in để viết bài. Tôi là đứa học sinh duy nhất chưa bao giờ dùng xà phòng, khi giặt quần áo tôi thường đi nhà bếp xin ít bột kiềm nấu ăn (alkali - chất kiềm, dùng để hấp bánh bao, làm bánh nướng, làm nước sôđa) là xong. Nhưng tôi chưa bao giờ tự ti, tôi cảm thấy mẹ tôi khổ cực cả đời, như người anh hùng chống lại đói khổ, làm con của người mẹ như thế tôi rất tự hào. Hồi mới lên Thiên Tân, tiết học tiếng Anh đầu tiên khiến tôi ù cạc. Khi mẹ lên, tôi kể cho mẹ nghe tôi sợ tiếng Anh thế nào, ai ngờ mẹ chỉ cười bảo: “Mẹ chỉ biết con là đứa trẻ con khổ cực nhất, mẹ không thích con kêu khó, vì chịu khổ được thì chả còn gì khó nữa.”

Tôi hơi bị nói lắp, có người bảo, học tiếng Anh đầu tiên cần làm chủ được cái lưỡi của mình, bởi vậy tôi thường kiếm một hòn sỏi ngậm vào miệng mình, rồi gắng đọc tiếng Anh. Hòn sỏi cọ xát vào lưỡi tôi, có lúc máu chảy ra bên mép, nhưng tôi cố gắng để kiên trì. Nửa năm trôi qua, hòn sỏi nhỏ đã bị mài tròn đi, lưỡi tôi cũng đã nhẵn, tiếng Anh đã thành người giỏi thứ 3 của lớp. Tôi vô cùng cảm ơn mẹ, lời mẹ khích lệ tôi vượt qua khó khăn lớn trong học tập. Năm 1996, lần đầu tiên tôi được tham gia cuộc thi Olympic tri thức toàn quốc khu vực Thiên Tân, đoạt giải Nhất môn Vật lý và giải Nhì môn Toán học, tôi được đại diện Thiên Tân đi Hàng Châu tham gia Cuộc thi Olympic toàn Trung quốc môn Vật lý. “Đoạt lấy chiếc Cup giải Nhất toàn Trung quốc tặng mẹ, rồi lên đường dự Olympic Vật lý Thế giới!” Tôi không ngăn được nỗi khao khát trong lòng, tôi viết thư báo cho mẹ tin vui và mơ ước của tôi. Kết quả, tôi chỉ được giải Nhì, tôi nằm vật ra giường, không ăn không uống. Dù tôi là người đạt thành tích cao nhất trong đoàn Thiên Tân đi thi, nhưng nếu tính cả những khốn khổ của mẹ tôi vào, thì thành tích này không xứng đáng! Tôi về trường, các thầy ngồi phân tích nguyên nhân thất bại cho tôi thấy: Tôi những muốn phát triển toàn diện cả Toán Lý Hoá, những mục tiêu của tôi quá nhiều nên sức lực tinh thần tôi phải phân tán rộng.

Nếu giờ tôi chỉ chọn một mục tiêu trước mắt là kỳ thi Toán, nhất định tôi thắng. Tháng 1 năm 1997, tôi cuối cùng đã giành chiến thắng tại kỳ thi Olympic Toán toàn Trung Quốc với điểm số tuyệt đối, lọt vào đội tuyển Quốc gia, cả mười kỳ thi kiểm tra ở đội tuyển tôi đều là người đứng đầu. Với thành tích đó, tôi được sang Argentina tham gia kỳ thi Olympic Toán quốc tế. Nộp xong phí báo danh, tôi gói những sách vở cần chuẩn bị và tương đậu cay của mẹ lại, chuẩn bị lên đường. Giáo viên chủ nhiệm và thầy giáo dạy Toán thấy tôi vẫn mặc bộ quần áo thải của người khác cho, những thứ áo quần màu sắc chả đâu vào đâu, kích cỡ khác nhau, bèn mở tủ áo của tôi ra, chỉ vào những áo trấn thủ vá, những áo bông tay đã phải nối hai lần, vạt đã phải chắp ba phân, hỏi tôi:

“Kim Bằng, đây là tất cả quần áo của em ư?”

Tôi chả biết nói sao, vội đáp: “Thầy ơi, em không sợ người khác chê cười! Mẹ em thường bảo, Phúc Hữu Thi Thư Khí Tự Hoa - trong lòng có sách vở tất mặt mũi sáng sủa, em mặc những thứ đồ này đi Mỹ gặp tổng thống Clintơn em cũng chẳng thấy ngượng.” Ngày 27/7, Olympic Toán học Thế giới lần thứ 38 chính thức khai mạc. Chúng tôi thi liên tục suốt năm tiếng rưỡi, từ 8 giờ 30 phút sáng tới 2h chiều. Ngày hôm sau công bố kết quả, đầu tiên công bố Huy chương Đồng, tôi không muốn nghe thấy tên mình; Sau đó công bố Huy chương Bạc, cuối cùng, công bố Huy chương Vàng, người đầu tiên, người thứ hai, người thứ ba là tôi. Tôi khóc lên vì sung sướng, trong lòng tự nói: “Mẹ ơi, con mẹ thành công rồi!”

Tin tôi và một người bạn nữa đoạt Huy chương Vàng kỳ thi Olympic Toán học ngay chiều hôm đó đã được Đài phát thanh Nhân dân Trung ương TQ và Đài truyền hình Trung ương TQ đưa. Ngày 1/8, chúng tôi vinh quang trở về, lễ đón long trọng được Hiệp hội khoa học Trung Quốc và Hội Toán học TQ tổ chức. Khi đó, tôi muốn về nhà, tôi muốn sớm gặp mẹ, tôi muốn chính tay tôi đeo tấm huy chương vàng chói lọi lên cổ mẹ… Hơn mười giờ đêm tối hôm đó, tôi cuối cùng đã đội trời đêm về đến nhà. Người mở cửa là ba tôi, nhưng người một tay ôm chặt lấy tôi vào ngực trước lại chính là mẹ tôi.

Dưới trời sao vằng vặc, mẹ tôi ôm tôi rất chặt…

Tôi lấy tấm huy chương vàng đeo lên cổ mẹ, khóc một cách nhẹ nhõm và sung sướng. Ngày 12/8, trường Trung học số Một của Thiên Tân chật ních người, mẹ được ngồi lên bàn Chủ tịch danh dự cùng với các quan chức Cục giáo dục Thiên Tân và các giáo sư toán học hàng đầu. Hôm đó, tôi đã phát biểu thế này: “Tôi muốn dùng cả sự sống của tôi để cảm tạ một người, là người mẹ đã sinh và nuôi nấng tôi. Mẹ tôi là một người phụ nữ nông dân bình thường, nhưng những đạo lý mẹ dạy tôi nên người đã khích lệ tôi cả đời. Năm tôi học lớp 10, tôi muốn mua cuốn sách “Đại từ điển Anh-Trung” để học tiếng Anh, mẹ tôi không có tiền, nhưng mẹ vẫn nghĩ cách giúp tôi. Sau bữa cơm sáng, mẹ tôi mượn một chiếc xe cải tiến, chất một xe rau cải trắng, hai mẹ con tôi đẩy ra chợ huyện cách hơn bốn mươi km bán rau. Đến được chợ đã gần trưa, buổi sáng đó tôi và mẹ chỉ ăn hai bát cháo ngô nấu với khoai lang đỏ, lúc đó bụng đói cồn cào, chỉ mong có ai tới mua cho cả xe rau ngay. Nhưng mẹ vẫn nhẫn nại mặc cả từng bó, cuối cùng bán với giá 1 hào một cân. Hai trăm cân rau đáng lẽ 21 tệ, nhưng người mua chỉ trả 20 tệ. Có tiền rồi tôi muốn ăn cơm, nhưng mẹ bảo nên đi mua sách trước, đó là việc chính của ngày hôm nay. Chúng tôi đến hiệu sách hỏi, giá sách là 8 tệ 2 hào 5 xu, mua sách rồi còn lại 1 tệ 7 hào 5 xu. Nhưng mẹ chỉ cho tôi 7 hào rưỡi đi mua hai cái bánh bột nướng, một tệ kia còn phải cất đi để dành cho tôi làm học phí. Tuy ăn hết hai cái bánh nướng, nhưng đi bộ tiếp 40km về nhà, tôi vẫn đói tới mức hoa mắt chóng mặt, lúc này tôi mới nhớ ra tôi đã quên không phần cho mẹ ăn một miếng bánh nướng nào, mẹ tôi chịu đói cả ngày, vì tôi mà kéo xe suốt 80km đường xa. Tôi hối hận tới mức chỉ muốn tát cho mình một cái, nhưng mẹ tôi chỉ bảo: “Mẹ ít văn hoá, nhưng mẹ nhớ khi nhỏ được thầy giáo dạy là, Golgi có nói một câu: Nghèo đói là trường đại học tốt nhất. Nếu con có thể tốt nghiệp trường đại học này, thì những trường đại học như Thiên Tân, Bắc Kinh con chắc chắn đều đỗ.”

Khi mẹ nói thế mẹ không nhìn tôi, mẹ nhìn ra con đường đất xa xôi, cứ như thể con đường đất đó có thể thông tới tận Thiên Tân, đi thẳng tới Bắc Kinh. Tôi nghe mẹ bảo thế, tôi không thấy đói nữa, chân tôi không mỏi nữa…Nếu nghèo đói là trường đại học tốt nhất, thì tôi muốn nói rằng, người mẹ nông dân của tôi chính là người thầy giáo giỏi nhất của đời tôi.”

Dưới khán đài, không biết có bao nhiêu đôi mắt đã ướt đẫm, tôi quay về phía người mẹ tóc hoa râm của tôi, cúi người xuống kính cẩn…
---------------

Trang Hạ (tổng hợp các báo Trung Quốc, cuốn "Tâm hồn cao đẹp", tự truyện của An Kim Bằng, tự truyện của Lưu Lệ Quyên)

[ Chung ] 17 November, 2011 06:18

Titre:

On the integral identity conjecture of Kontsevich and Soibelman

Résumé:

Kontsevich and Soibelman recently introduced an important theory of motivic Donaldson-Thomas invariants for non-commutative 3 dimensional Calabi-Yau varieties on the foundations of derived Hall algebra and motivic integration. Nevertheless, such invariants are not obviously available because of a so-called integral identity conjecture being on the consideration. In this talk we mention to this conjecture as well as some advances in the studies which concern. Namely, we prove the full version in the ample scope of formulas of Guibert-Loeser-Merle on motivic Milnor fibers, and do the $\ell$-adic version for polynomials in terms of the analytic geometry of Berkovich.

[ Chung ] 07 October, 2011 15:18

"Tôi rất vinh dự có mặt trong lễ trao bằng tốt nghiệp của các bạn hôm nay tại một trong những trường đại học uy tín nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng đại học. Phải thú nhận đây là lần tôi tiếp cận gần nhất với một buổi tốt nghiệp. Tôi muốn kể cho các bạn ba câu chuyện về cuộc đời tôi. Không có gì nhiều nhặn. Chỉ là ba câu chuyện.

Chuyện thứ nhất là về việc kết nối các dấu chấm (kết nối các sự kiện)

Tôi bỏ trường Reed College ngay sau 6 tháng đầu, nhưng sau đó lại đăng ký học thêm 18 tháng nữa trước khi thực sự rời trường. Vậy, vì sao tôi bỏ học?

Mọi chuyện như đã định sẵn từ trước khi tôi sinh ra. Mẹ đẻ tôi là một sinh viên, bà chưa kết hôn và quyết định gửi tôi làm con nuôi. Bà nghĩ rằng tôi cần được nuôi dưỡng bởi những người đã tốt nghiệp đại học nên sắp đặt để trao tôi cho một vợ chồng luật sư ngay trong ngày sinh. Tuy nhiên, mọi chuyện thay đổi vào phút chót bởi họ muốn nhận một bé gái hơn là tôi.

Vì thế, cha mẹ nuôi của tôi, khi đó đang nằm trong danh sách xếp hàng, đã nhận được một cú điện thoại vào nửa đêm rằng: "Chúng tôi có một đứa con trai không mong đợi, ông bà có muốn chăm sóc nó không?" và họ trả lời: "Tất nhiên rồi". Mẹ đẻ tôi sau đó phát hiện ra mẹ nuôi tôi chưa bao giờ tốt nghiệp đại học còn cha tôi thậm chí chưa tốt nghiệp phổ thông trung học. Bà từ chối ký vào giấy tờ trao nhận và chỉ đồng ý vài tháng sau đó khi bố mẹ hứa rằng ngày nào đó tôi sẽ vào đại học.

Sau đó 17 năm, tôi thực sự đã vào đại học. Nhưng tôi ngây thơ chọn ngôi trường đắt đỏ gần như Đại học Stanford vậy. Toàn bộ số tiền tiết kiệm của bố mẹ tôi phải dồn vào trả học phí cho tôi. Sau 6 tháng, tôi thấy việc đó không hề hiệu quả. Tôi không có ý niệm về những gì muốn làm trong cuộc đời mình và cũng không hiểu trường đại học sẽ giúp tôi nhận ra điều đó như thế nào. Tại đó, tôi tiêu hết tiền mà cha mẹ tiết kiệm cả đời. Vì vậy tôi ra đi với niềm tin rằng mọi việc rồi sẽ ổn cả. Đó là khoảnh khắc đáng sợ, nhưng khi nhìn lại, đấy lại là một trong những quyết định sáng suốt nhất của tôi. Tôi bắt đầu bỏ những môn học bắt buộc mà tôi không thấy hứng thú và chỉ đăng ký học môn tôi quan tâm.

Tôi không có suất trong ký túc, nên tôi ngủ trên sàn nhà của bạn bè, đem đổi vỏ chai nước ngọt lấy 5 cent để mua đồ ăn và đi bộ vài km vào tối chủ nhật để có một bữa ăn ngon mỗi tuần tại trại Hare Krishna. Những gì tôi muốn nói là sau này tôi nhận ra việc cố gắng theo đuổi niềm đam mê và thỏa mãn sự tò mò của mình là vô giá.

Tôi sẽ kể cho các bạn một ví dụ: Đại học Reed khi đó có lẽ là trường tốt nhất dạy về nghệ thuật viết chữ đẹp ở Mỹ. Khắp khuôn viên là các tấm áp-phích, tranh vẽ với những dòng chữ viết tay tuyệt đep. Vì tôi đã bỏ học, tôi quyết định chỉ đăng ký vào lớp dạy viết chữ để tìm hiểu họ làm điều đó thế nào. Tôi học cách biến hóa với nét bút, về khoảng cách giữa các chữ, về nét nghiêng, nét đậm. Đây là môn học nghệ thuật và mang tính lịch sử mà khoa học không thể nắm bắt được và tôi thấy nó thật kỳ diệu.

Những thứ này khi đó dường như chẳng có chút ứng dụng thực tế nào trong cuộc đời tôi. Nhưng 10 năm sau, khi chúng tôi thiết kế máy Macintosh, mọi thứ như trở lại trong tôi. Và chúng tôi đưa nó vào trong Mac. Đó là máy tính đầu tiên có các font chữ đẹp. Nếu tôi không bỏ học chỉ để theo một khóa duy nhất đó, máy Mac sẽ không bao giờ được trang bị nhiều kiểu chữ hoặc có được sự cân xứng về khoảng cách các chữ như vậy (sau này Windows đã sao chép lại). Nếu tôi không bỏ học, tôi có lẽ sẽ không bao giờ tham gia lớp nghệ thuật viết chữ và máy tính có lẽ không có được hệ thống chữ phong phú như hiện nay.

Tất nhiên, chúng ta không thể kết nối các dấu ấn tương lai, bạn chỉ có thể móc nối chúng khi nhìn lại quá khứ. Vậy hãy tin rằng các dấu chấm, các sự kiện trong cuộc đời bạn về mặt này hay mặt khác sẽ ảnh hưởng đến tương lai của bạn. Bạn phải có niềm tin vào một thứ gì đó - sự can đảm, số phận, cuộc đời, định mệnh hay bất cứ điều gì - cách nghĩ đó đã tạo nên những sự khác biệt trong cuộc đời tôi.

Câu chuyện thứ hai là về tình yêu và sự mất mát

Tôi may mắn khi đã nhận ra những gì tôi yêu quý ngay từ khi còn trẻ. Woz (Steve Wozniak) cùng tôi sáng lập Apple tại garage của bố mẹ khi tôi mới 20 tuổi. Chúng tôi làm việc miệt mài trong 10 năm và phát triển từ một cái nhà xe thành một công ty trị giá 2 tỷ USD với 4.000 nhân viên. Chúng tôi cho ra đời thành quả sáng tạo - Macintosh - khi tôi mới bước sang tuổi 30.

Sau đó, tôi bị sa thải. Sao bạn lại có thể bị sa thải tại ngay công ty mà bạn lập ra? Apple đã thuê một người mà tôi nghĩ là đủ tài năng để điều hành công ty với mình và năm đầu tiên, mọi thứ đã diễn ra tốt đẹp. Nhưng sau đó, tầm nhìn về tương lai của chúng tôi khác nhau và không thể hợp nhất. Khi đó, ban lãnh đạo đứng về phía ông ấy. Ở tuổi 30, tôi phải ra đi. Những gì tôi theo đuổi cả đời đã biến mất, nó đã bị phá hủy.

Tôi không biết phải làm gì trong những tháng tiếp theo. Tôi cảm thấy như mình đã đánh rơi mất cây gậy trong cuộc chơi khi người ta vừa trao nó cho tôi. Tôi đã gặp David Packard và Bob Noyce, cố gắng xin lỗi vì đã làm mọi chuyện trở nên tồi tệ. Tôi còn nghĩ đến chuyện bỏ cuộc. Nhưng mọi thứ bắt đầu kéo tôi trở lại. Tôi vẫn yêu những gì tôi làm. Bước ngoặt tại Apple không thay đổi con người tôi. Tôi bị từ chối, nhưng tôi vẫn còn yêu. Vì thế tôi quyết định làm lại từ đầu.

Khi đó tôi đã không nhận ra, nhưng hóa ra bị sa thải lại là điều tốt nhất dành cho tôi. Sức ép duy trì sự thành công đã được thay thế bằng tinh thần nhẹ nhàng của người mới bắt đầu lại và không chắc về những gì sẽ diễn ra. Nó giải phóng tôi để bước vào giai đoạn sáng tạo nhất cuộc đời.

Trong năm năm tiếp theo, tôi thành lập NeXT và một công ty khác mang tên Pixar và phải lòng một người phụ nữ tuyệt vời, người trở thành vợ tôi sau này. Pixar tạo ra bộ phim từ đồ họa máy tính đầu tiên trên thế giới - Toy Story và hiện là xưởng phim hoạt hình thành công nhất toàn cầu. Apple mua lại NeXT, tôi trở lại và công nghệ tôi phát triển ở NeXT là trọng tâm trong cuộc phục hưng Apple. Tôi và vợ Laurene cũng có một cuộc sống gia đình tuyệt vời.

Steve Jobs tại NeXT sau khi bị Apple sa thải. Ảnh: AP.
Steve Jobs tại NeXT sau khi bị Apple sa thải. Ảnh: AP.

Tôi khá chắc chắn rằng những điều trên sẽ không xảy ra nếu tôi không bị Apple sa thải. Nó như một liều thuốc đắng và kinh khủng, nhưng bệnh nhân cần nó. Đôi khi cuộc đời sẽ giáng một viên gạch vào đầu bạn. Đừng mất niềm tin. Tôi hiểu thứ duy nhất khiến tôi vững vàng chính là niềm đam mê. Bạn phải tìm ra bạn yêu cái gì. Nó đúng cho công việc và cho cả những người thân yêu của bạn. Công việc chiếm phần lớn cuộc đời và cách duy nhất để thực sự hài lòng là làm những gì bạn tin nó sẽ trở nên tuyệt vời. Và cách duy nhất có công việc tuyệt vời là yêu những gì bạn làm. Nếu chưa nhận ra, hãy tiếp tục tìm kiếm. Đừng dừng lại. Như mọi mối quan hệ trong cuộc đời, nó sẽ trở nên ngày càng tốt đẹp hơn qua từng năm.

Câu chuyện thứ ba là về cái chết.

Khi 17 tuổi, tôi đọc ở đâu đó rằng: "Nếu sống mỗi ngày như thể đó là ngày cuối cùng, một ngày nào đó bạn sẽ đúng". Điều đó gây ấn tượng với tôi và 33 năm qua, tôi nhìn vào gương mỗi sáng và hỏi: "Nếu hôm nay là ngày cuối của cuộc đời mình, mình có muốn làm những gì định làm hôm nay không?". Nếu câu trả lời là "Không" kéo dài trong nhiều ngày, đó là lúc tôi biết tôi cần thay đổi.

Luôn nghĩ rằng mình sẽ sớm chết là công cụ quan trọng nhất giúp tôi tạo ra những quyết định lớn trong đời. Vì gần như mọi thứ, từ hy vọng, niềm tự hào, nỗi sợ hãi, tủi hộ hay thất bại, sẽ biến mất khi bạn phải đối mặt với cái chết, chỉ còn lại điều thực sự quan trọng với bạn. Nghĩ rằng mình sắp chết là cách tốt nhất tôi tránh rơi vào bẫy rằng tôi sẽ mất cái gì đó. Khi không còn gì nữa, chẳng có lý gì bạn không nghe theo lời mách bảo của trái tim.

Một năm trước, tôi biết mình bị ung thư. Tôi được chụp cắt lớp lúc 7h30 và nhìn thấy rõ khối u trong tuyến tụy. Tôi còn chẳng biết tuyến tụy là cái gì. Bác sĩ bảo tôi bệnh này không chữa được và tôi chỉ có thể sống thêm 3 đến 6 tháng nữa. Ông ấy khuyên tôi về nhà và sắp xếp lại công việc, cố gắng trò chuyện với bọn trẻ những điều mà tôi định nói với chúng trong 10 năm tới, nhưng giờ phải tâm sự trong vài tháng. Nói cách khác, hãy nói lời tạm biệt.

Tối hôm đó, tôi được kiểm tra sinh thiết. Họ đút một ống qua cổ họng tôi xuống dạ dày và ruột rồi đặt một cái kim vào tuyến tụy để lấy mẫu tế bào khối u. Tôi giữ thái độ bình thản, và vợ tôi, cũng có mặt lúc đó, kể với tôi rằng khi các bác sỹ xem các tế bào dưới kính hiển vi, họ đã reo lên khi phát hiện đây là trường hợp ung thư tuyến tụy hiếm hoi có thể chữa được bằng phẫu thuật. Tôi đã được phẫu thuật và bây giờ tôi đã khỏe lại.

Steve Jobs mất ngày 5/10. Ảnh: Yahoo News.
Steve Jobs mất ngày 5/10. Ảnh: Yahoo News.

Đó là lần gần nhất tôi đối mặt với cái chết. Tôi hy vọng lần tiếp theo sẽ là vài thập kỷ nữa. Không ai muốn chết. Ngay cả người mong được lên thiên đường cũng không muốn chết để tới đó. Nhưng cái chết là đích đến mà chúng ta đều phải tới. Không ai thoát được nó. Cái chết như là phát minh hay nhất của sự sống. Nó là tác nhân thay đổi cuộc sống. Nó loại bỏ sự cũ kỹ (người già) để mở đường cho cái mới (lớp trẻ). Các bạn chính là thế hệ trẻ, nhưng ngày nào đó sẽ già đi và rời bỏ cuộc sống. Xin lỗi vì đã nói thẳng nhưng điều đó là sự thật.

Thời gian của bạn không nhiều, đừng lãng phí bằng cách sống cuộc đời của người khác. Đừng nghe những lời giáo điều, vì đó là suy nghĩ của người khác. Đừng để những quan điểm ồn ào lấn át tiếng nói bên trong bạn. Chúng biết bạn muốn gì. Mọi thứ khác chỉ là thứ yếu.

Khi tôi còn trẻ, có một cuốn sách thú vị là The Whole Earth Catalog (Cẩm nang thế giới). Nó giống như một cuốn kinh thánh, kim chỉ nam của thế hệ tôi. Tác giả Steward Brand tạo ra nó vào thập niên 60, trước thời máy tính cá nhân. Nội dung sách được soạn bằng máy đánh chữ, bằng kéo và bằng máy ảnh polaroid. Nó như Google trên giấy vậy. Ở bìa sau của cuốn sách có in ảnh một con đường trong ánh bình minh, bên dưới là dòng chữ: "Sống khát khao. Sống dại khờ". Tôi luôn chúc điều đó cho chính mình. Hôm nay, các bạn tốt nghiệp và sắp bước vào cuộc đời mới, tôi cầu chúc điều đó cho các bạn.

Hãy luôn khao khát. Hãy luôn dại khờ".

[ Chung ] 23 August, 2011 04:15

When I am down and, oh my soul, so weary;
When troubles come and my heart burdened be;
Then, I am still and wait here in the silence,
Until you come and sit awhile with me.

You raise me up, so I can stand on mountains;
You raise me up, to walk on stormy seas;
I am strong, when I am on your shoulders;
You raise me up... To more than I can be.

[Instrumental break]

You raise me up, so I can stand on mountains;
You raise me up, to walk on stormy seas;
I am strong, when I am on your shoulders;
You raise me up... To more than I can be.

You raise me up, so I can stand on mountains;
You raise me up, to walk on stormy seas;
I am strong, when I am on your shoulders;
You raise me up... To more than I can be.

You raise me up, so I can stand on mountains;
You raise me up, to walk on stormy seas;
I am strong, when I am on your shoulders;
You raise me up... To more than I can be.

You raise me up... To more than I can be.

[ Chung ] 09 August, 2011 22:39

Trang nhật kí hôm nay sẽ ghi lại toàn những chuyện không vui, dạo này sao mình cô đơn quá, chẳng có ai để tâm sự mặc dù mấy anh em nghỉ hè tụ tập nhậu nhẹt suốt ngày.

1) Hôm qua vừa say rượu, một cuộc ăn uống ngẫu hứng lành mạng với Xúc xích Đức và Sườn nấu măng đã biến thành một cuộc uống rượu mạnh tập thể. Gọi điện cho hai thằng bạn đến nhà anh Hà để ăn xúc xích, thế là chúng nó mang đến một ý tưởng mới cho bữa cơm thân mật, uống rượu giải đen cho một ngày chẳng ra gì của chúng nó. Mình về đến nhà gần 3h sáng, đạp xe qua rừng Vincennes cũng hơi run, nhưng được cái vùng này an toàn vì chủ yếu là người Pháp gốc sinh sống, chứ không như vùng phía Bắc đến người Pháp còn sợ ra đường vì sự không an toàn do những người nước ngoài thất nghiệp tạo ra. Sáng nay dạy phải giặt toàn bộ chăn và ga giường, hậu quả thật khủng khiếp.

2) Hôm nay vào mạng mình tá hỏa, giá vàng đã tăng lên đến mức 46,15 triệu, thật tồi tệ. Số là vì cần tiền mua nhà cho mình, mẹ mình đã vay một khoản kha khá, ngày trước bán được 28 triệu, bây giờ nó đã tăng gấp đôi. Hơn nữa, người ta cũng sắp cần nên phải trả gấp một phần. Bây giờ đồng euro chẳng có nghĩa lý gì khi so với giá vàng. Cái này thì không làm mình buồn bằng việc chứng kiến mẹ mình lo lắng. Em gái nói dạo này mẹ lo lắng, ăn cũng tiết kiệm và gày hơn trước. Mình đau lắm! Hy vọng từ giờ đến tết giải quyết được hết vấn đề, nhưng để mẹ lo lắng từ giờ đến tết cũng thật là quá bất hiếu rồi.

3) Mình có cung Nô Bộc cực xấu nên gặp phải nhiều bạn xấu (tất nhiên là cũng có nhiều bạn tốt nhưng trong khi bạn tốt đem lại cho mình sự bình yên trong tâm hồn thì bạn xấu gây thiệt hại cho mình rất nhiều về vật chất). Một thằng bạn cấp 3 mình coi là thân và tin tưởng đã làm ngơ trước những bức thư "cầu cứu" của mình. Hồi trước, để xây nhà, nó đã chẳng ngày nào cũng viết thư thúc giục mình gửi tiền cho vay, đến mức mình cũng phải sốt ruột theo, vay cả bạn bè ở đây để có tiền gửi cho nó. Thêm nữa, có lần gửi tiền về cho gia đình, nhờ nó đi lấy giúp rồi nó cũng tiêu luôn chứ chẳng gửi lại. Đùng một cái, bạn bè ở đây đòi tiền mình, họ rút séc, thế là tài khoản ngân hàng bị âm mấy nghìn euros và trong hơn một năm trời mình đã bị ngân hàng phạt tiền rất nặng, có những tuần bị phạt tớ 60 euros, làm mình đau hết cả lòng. Bây giờ viết thư cho nó cầu cứu, chỉ cần nó trả một phần ba thôi là mẹ mình ở nhà cũng hết lo lắng rồi, nhưng mà nó chọn cách im lặng để giao tiếp với mình. Một anh bạn của mình đã nói, đúng là tiền-bạc, đồng tiền rất bạc, nó đã làm mất đi một tình bạn tưởng là đẹp của mình rồi!!!

4)(đoạn này đã bị xóa)

5) Chuyện học hành đáng lẽ phải cho vào mục 1) nhưng thôi, cho vào mục cuối cũng hàm ý quan trọng nhất (theo thứ tự ngược lại mà). Mình chỉ cần làm xong được vấn đề hiện tại là có thể bảo vệ luận án được rồi. Trong hai năm qua, mình đã viết được 3 bài báo khá tốt, hai bài đầu đã được nhận đăng tại các tạp chí chất lượng (tất nhiên là không phải hàng đầu), bài thứ ba sắp submit để chờ phản biện. Hai thầy trò tự thấy, chỉ cần thêm một bài nữa là đủ cho một luận án tốt. Thường thì ngành của mình, phải làm 4 năm mới đủ để bảo vệ, do đó nếu việc mình sắp hoàn thành mà mới chỉ dùng có gần 2 năm có thể coi như mình là người may mắn. Tuy nhiên, vấn đề hiện tại học búa quá, mình vẫn bị khủng hoảng phương pháp, chưa tìm ra được một kĩ thuật nào phù hợp để giải quyết nó. Bế tắc nên thấy mình vô dụng quá, thấy mình ngu dốt quá, thấy chán nản quá. Còn có bao nhiêu việc để làm mà công việc trước mắt vẫn dậm chân tại chỗ.

Mình là người có thể cùng một lúc làm nhiều việc khác nhau, có thể hài hòa được mọi thứ và hòa nhập tốt với cuộc sống này, tránh ngơ ngác với xã hội như nhiều người làm khoa học bị như thế. Thậm chí, dạo này trông mấy ông bạn nghiên cứu sinh của mình, thấy mấy chú như sắp hâm đến nơi rồi. Điều đáng buồn của mình là, cùng một lúc này, mọi chiến trường của mình đều bế tắc. Đây là cái note tâm trạng và có nội dung tiêu cực nhất mà mình từng viết.

[ Chung ] 04 August, 2011 01:36

Mùa thu, mùa mình yêu nhất sắp đến rồi. Nào hãy nghe lại những tình khúc mùa thu nổi tiếng.

1. “Gửi gió cho mây ngàn bay” (nhạc sĩ Đoàn Chuẩn - Từ Linh)

“... Với bao tà áo xanh đây mùa thu
Hoa lá tàn, hàng cây đứng hững hờ
Lá vàng, từng cánh rơi từng cánh
Rơi xuống âm thầm trên đất xưa...”

Mùa thu với bao vẻ đẹp nên thơ của đất trời đã gieo cảm xúc khiến nhạc sĩ Đoàn Chuẩn viết nên những giai điệu làm say đắm lòng người. Lá đổ muôn chiều, Chuyển bến hay Tà áo xanh đều được coi là những kiệt tác của âm nhạc VN. Trong số những tác phẩm viết về mùa thu của Đoàn Chuẩn, không thể không nhắc tới Gửi gió cho mây ngàn bay. Một bức tranh sinh động về thu Hà Nội đã được cố nhạc sĩ gửi gắm trong từng nốt nhạc và ca từ đầy lãng mạn (nghe ca khúc).

Đó là một mùa thu “lá vàng từng cánh rơi từng cánh” khiến tác giả “thấy hối tiếc nhiều” vì “thuyền đã sang bờ, đường về không lối”. Trong suốt cuộc đời, Đoàn Chuẩn sáng tác không nhiều, nhưng những tác phẩm của ông đều nắm giữ vị trí quan trọng trong trái tim người yêu nhạc VN hơn nửa thế kỷ qua. Năm nay, khi Hà Nội tròn 1000 năm tuổi cũng vào mùa thu, giai điệu của Gửi gió cho mây ngàn bay một lần nữa lại vang lên như đem “mùa thu trần gian” năm nào trở về. Khánh Ly, Tuấn Ngọc hay Thu Hà đều là những nghệ sĩ thể thiện ca khúc này thành công.

2. “Thu cô liêu” (nhạc sĩ Văn Cao)

“... Thu cô liêu, tịch liêu
Cô thôn chiều, ta yêu thu, yêu mùa thu
Vàng hoen đáy nước soi rõ đường đi
Một mùa thi, một mùa thi
Lá xanh rơi rụng, buồn chi lá vàng...”

Dường như mùa thu có mối duyên nợ kỳ lạ với cố nhạc sĩ Văn Cao. Khi sinh thời, ônh từng tâm sự rằng: “Những kỷ niệm về mùa thu thì có quá nhiều trong cuộc đời, không chỉ mùa thu cách mạng mà còn cả mùa thu tình ái. Mùa thu gợi một cái gì đó về nam nữ, có lẽ là mùa cưới. Mùa cưới của chúng ta cũng lại vào mùa thu. Cái lành lạnh của mùa thu và những chiếc lá thay đổi màu cũng khiến tâm tính con người trở nên khác lạ”.

alt
Mùa thu với những con đường tràn ngập lá vàng rơi. Ảnh: Nguyễn Hữu Trí.

Là một trong ba tác phẩm viết về thu của cố nhạc sĩ Văn Cao, Thu cô liêu mang giai điệu êm đềm, dịu dàng giống như tâm hồn tươi trẻ của một cô thôn nữ đang khám phá vẻ đẹp của buổi chiều thu. Mùa thu là mùa đem tới những xúc cảm bâng khuâng, khơi gợi tình yêu giữa đôi lứa. Hình ảnh ca sĩ Hồng Nhung duyên dáng cất cao tiếng hát trong trẻo giữa một bãi cỏ lau đu đưa trong gió đã trở nên gắn liền với nhạc phẩm Thu cô liêu trong suốt bao năm qua (xem video).

3. “Mùa thu lá bay” (nhạc Hoa, lời Việt)

“... Mùa thu lá bay anh đã đi rồi
Vỡ tan ôi bao giấc mộng lứa đôi
Giờ đành lìa xa thế nhân sầu đau
Hẹn anh kiếp sau ta nhìn thấy nhau...”

Có một thời, nhạc phẩm Mùa thu lá bay đã tạo nên hiện tượng lớn đối với đông đảo công chúng yêu nhạc VN. Trong các buổi biểu diễn âm nhạc ngày trước, khi người dẫn chương trình giới thiệu nữ ca sĩ hải ngoại Kim Anh bước ra sân khấu thể hiện ca khúc này, ở phía dưới khán giả là những tràng pháo tay giòn giã không ngớt. Mùa thu lá bay đã làm nên tên tuổi của Kim Anh hay ngược lại, là điều mà chưa ai dám khẳng định. Chỉ biết rằng từ lâu, mỗi khi câu hát “Một ngày sống bên anh sẽ muôn đời” vang lên, người nghe chỉ biết nín lặng và chìm đắm trong giọng ca đầy mê hoặc của Kim Anh (nghe ca khúc).

Mùa thu cũng là mùa của sự biệt ly, chia lìa lứa đôi. Giai điệu mang nhiều tâm trạng của Mùa thu lá bay để lại cho người nghe nỗi khắc khoải và chạnh lòng khi nghĩ tới những kỷ niệm xưa cũ. Người con gái trong ca khúc tự gặm nhấm nỗi xót xa và mong một ngày được đoàn tụ với người mình yêu ở kiếp sau, khi đó tình yêu là “thiên thu”. Lần đầu tiên Kim Anh trình diễn Mùa thu lá bay là vào năm 1977. Sau hơn 30 năm, chị đã có dịp trở về quê hương và đứng giữa khán giả thể hiện lại ca khúc này với chất giọng trầm ấm như chưa từng bị mai một, trong đêm nhạc Tuấn Vũ - 10 năm hội ngộ diễn ra hồi cuối tháng 8 ở Hà Nội.

4. “Mùa thu cho em” (nhạc sĩ Ngô Thụy Miên)

“... Anh có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ
Anh có nghe nai vàng hát khúc yêu đương
Và anh có nghe khi mùa thu tới
Mang ái ân, mang tình yêu tới
Anh có nghe hồn thu nói mình yêu nhau nhé...”

Khi mùa hè với cái nắng gay gắt qua đi, mùa thu đến đem theo những cơn gió heo may dịu dàng, những con đường tràn ngập lá vàng rơi và cả khúc yêu thương của những trái tim “vương màu xanh mới”. Đó chính là lời nhắn nhủ mà nhạc sĩ Ngô Thụy Miên gửi gắm trong ca khúc Mùa thu cho em. Lời ca bay bổng, giai điệu ngọt ngào mang âm hưởng những năm 1970 mỗi khi vang lên như khẽ nhắc nhở người nghe rằng mùa thu đã sang rồi.

Tình cảm dành cho mùa thu được nhạc sĩ Ngô Thụy Miên thể hiện vừa lãng mạn, lại vừa kín đáo nhưng vẫn có sự nồng nàn trong các tình khúc của mình. Cô gái trong bài hát đã nhờ vẻ đẹp “má hồng”, “môi em thơm nồng” của mùa thu để bày tỏ tình yêu của mình một cách ý nhị. Khi thiên nhiên, đất trời thay áo mới, con người cũng khoác lên mình một tâm hồn mới, đầy ắp yêu thương và hy vọng. Lệ Thu (nghe ca khúc) và Ngọc Lan (nghe ca khúc) là hai nghệ sĩ thể hiện Mùa thu cho em thành công nhất.

5. “Con thuyền không bến” (nhạc sĩ Đặng Thế Phong)

“... Đêm nay thu sang cùng heo may
Đêm nay sương lam mờ chân mây
Thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng
Như nhớ thương ai chùng tơ lòng...”

Là một trong số ít ỏi ba ca khúc của nhạc sĩ bạc mệnh Đặng Thế Phong, Con thuyền không bến cho đến nay vẫn được xem là tác phẩm bất hủ nhất của tân nhạc VN. Từng giai điệu tê tái, não nề của ca khúc này đã để lại dấu ấn không thể phai nhòa trong tâm trí người yêu nhạc VN suốt gần 70 năm qua. Con thuyền không bến được Đặng Thế Phong sáng tác dành tặng riêng cho cô Tuyết - người yêu của ông khi đó. Trong một đêm trắng mùa thu trên sông Thương, chàng nhạc sĩ trẻ đã biến nỗi nhớ thương người yêu nơi xa thành một tuyệt phẩm.

alt
Ca sĩ Khánh Ly. Ảnh: S.T.

Con thuyền không bến là một hình ảnh đậm chất thơ. Thuyền trôi lờ lững trên dòng nước mênh mang trong một đêm thu chớm lạnh cùng “heo may”, “sương lam mờ chân mây”, “ánh trăng mờ chiếu”. Nhạc sĩ Đặng Thế Phong đã diễn tả tâm trạng khắc khoải, nhung nhớ của những thanh niên trẻ trong thời chiến. Tình yêu của họ bơ vơ, lạc lõng cũng giống như con thuyền trôi bên con sông mùa thu, không biết đâu là bến bờ. Giọng hát khàn đục đặc trưng của nữ ca sĩ Khánh Ly đã thổi hồn và đem đến sức sống mãnh liệt mãi trường tồn cùng thời gian cho nhạc phẩm Con thuyền không bến (nghe ca khúc).

6. “Không còn mùa thu” (nhạc sĩ Việt Anh)

“... Không còn mùa thu, trăng rơi bên thềm
Không còn lời ru, mơ trên môi mềm
Em thơ, như mùa xuân đầu, nối dài đêm sâu
Anh làm mùa thu, cho em mơ màng...”

Ngoài vẻ đẹp quyến rũ làm xao xuyến lòng người, mùa thu với những lời ru, ánh trăng thề, những con đường hiu quạnh còn đem lại cảm giác buồn man mác. Đó là sự hoài niệm về những gì đã qua, về mối tình cũ đã chìm trong quá khứ. Mùa thu đến và đi quá đột ngột, cũng giống như chuyện tình dang dở của cô gái trong ca khúc Không còn mùa thu, để lại bao nuối tiếc và thương nhớ. Những ký ức về cuộc tình cũ cứ hiện về trong tâm trí của cô gái ấy mỗi độ thu sang.

alt
Thu Phương được mệnh danh là nữ ca sĩ "Mùa thu Hà Nội". Ảnh: T.P.

Không còn mùa thu gắn liền với tiếng hát của nữ ca sĩ được mệnh danh là giọng ca "mùa thu Hà Nội" - Thu Phương (nghe ca khúc). Giai điệu trữ tình cùng chất giọng nồng nàn, tha thiết của Thu Phương gợi cho người nghe một cảm giác xao xuyến, bồi hồi. Nhắc tới mùa thu, hầu như ai cũng hình dung ra sắc vàng. Đó là màu của những chiếc lá rơi bên thềm, của ánh trăng khuya và cũng là màu vàng tê tái của những ký ức tươi đẹp đã qua, chìm khuất tận nơi chân trời.

7. “Thu quyến rũ” (nhạc sĩ Đoàn Chuẩn - Từ Linh)

“… Anh mong chờ mùa thu
Dìu thế nhân vào chốn thiên thai
Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay
Mùa thu quyến rũ anh rồi…”

Ra đời từ năm 1950 nhưng cho đến nay, những câu hát ngập tràn cảm xúc của Thu quyến rũ vẫn khiến bao thế hệ người yêu nhạc VN đắm chìm vào một không gian lãng mạn mỗi độ thu về. Vẻ đẹp của đất trời khi “ngả màu xanh lơ”, khi đàn bướm vui đùa trên những bông hồng, khi “mây bay về nơi cuối trời” đã khiến người nhạc sĩ “tức cảnh sinh tình”. Thu trở nên quyến rũ và đẹp hơn bao giờ hết qua lời kể của một chàng lãng tử si tình đã “trót yêu” tà áo xanh rực rỡ mà mùa thu tự khoác lên mình.

Đoàn Chuẩn nổi tiếng với tính cách phong lưu, hào hoa và ông đã đem cái “chất” ấy vào trong các tác phẩm của mình. Đoàn Chuẩn sáng tác không nhiều nhưng mỗi bài hát của ông lại gắn với một giai thoại khác nhau và chủ yếu là về mùa thu vì “đó là mùa của tình yêu”. Dù đã trải qua hơn nửa thế kỷ, Thu quyến rũ vẫn có chỗ đứng riêng trong lòng nhiều thế hệ khán giả. Cao Minh và Tuấn Ngọc (nghe ca khúc) được coi là hai ca sĩ thể hiện được rõ nhất sự “phiêu bồng” của Thu quyến rũ.

8. “Buồn tàn thu” (nhạc sĩ Văn Cao)

“… Nghe bước chân người sương gió
Xa dần như tiếng thu đang tàn
Ôi người gió sương em mơ thương ái bao lần
Và chờ tin hồng đến
Đêm mùa thu chết…”

Buồn tàn thu là sáng tác đầu tay của cố nhạc sĩ Văn Cao viết năm 1939 với lời tựa dành cho nhạc sĩ Phạm Duy: “Tương tiến nhạc sĩ Phạm Duy, kẻ du ca đã gieo nhạc buồn của tôi khắp chốn”. Nhạc sĩ Phạm Duy cũng là người đầu tiên trình diễn ca khúc này trong thập niên 1940. Giai điệu buồn da diết với nhịp điệu chậm rãi của Buồn tàn thu thể hiện nỗi sầu thương của một người thiếu phụ mòn mỏi chờ đợi người yêu để rồi chết cùng mùa thu.

Nỗi vấn vương của người thiếu phụ trong bài hát cứ bay theo những chiếc lá vàng. Ngồi trong nhà đan áo, nàng nhắn nhủ gió, mây và những cánh chim uyên đưa duyên tới người tình trong sự vô vọng. Năm tháng cứ thế trôi qua và trong một đêm mùa thu chết, tình yêu của nàng đã “rơi theo lá vàng”. Những giọng nữ cao như Thái Thanh, Kim Tước hay sau này là Ánh Tuyết đã thổi hồn cho Buồn tàn thu (xem video).

9. “Mùa thu ru em” (nhạc sĩ Đức Huy)

“… Hôm mùa thu gió hát bài ca cũ
Mùa thu bay lá vàng
Anh ru em ngủ, bài ca dao ta vẫn hát
Lúc còn ấu thơ
Nắng vàng ấm suối tóc dệt mây thu
Mùa thu ru phím đàn…”

Những khán giả yêu mến nữ ca sĩ bạc mệnh Ngọc Lan hẳn vẫn còn nhớ đến video clip Mùa thu ru em của cô vào đầu những năm 1990. Trong vai một cô gái chăn cừu áo rách tả tơi rong ruổi khám phá vẻ đẹp của núi rừng mùa thu, diễn xuất của nữ ca sĩ đã gây ấn tượng mạnh mẽ cho người xem lúc bấy giờ. Lời ca trong sáng, dịu dàng đã được thể hiện qua chất giọng mượt mà, điêu luyện của Ngọc Lan (nghe ca khúc).

alt
Huyền thoại âm nhạc bạc mệnh - Ngọc Lan. Ảnh: ilovengoclan.

Mùa thu trong nhạc phẩm của Đức Huy đầy rực rỡ, mộng mơ với những lời ru tình yêu, “bờ môi nhớ thương” và đặc biệt là “bài ca dao ta vẫn hát lúc còn ấu thơ”. Dù cho nữ ca sĩ mang tên một loài hoa đã ra đi quá vội vàng, tiếng hát du dương của chị vẫn sẽ mãi như lời ru của mùa thu - e ấp, hiền hòa, vun đắp cho những tình yêu chớm nở, khiến lòng người đắm say trong những giấc mơ “dài cơn mê thương yêu ấy, những ngày ái ân”.

10. “Nhìn những mùa thu đi/ Nắng thủy tinh” (nhạc sĩ Trịnh Công Sơn)

“… Nhìn những mùa thu đi
Em nghe sầu lên trong nắng
Và lá rụng ngoài song
Nghe tên mình vào quên lãng
Nghe tháng ngày chết trong thu vàng…”

“… Chiều đã đi vào vườn mắt em
Mùa thu qua tay đã bao lần
Ngàn cây thắp nến lên hai hàng
Màu nắng bây giờ trong mắt em…”

Nhìn những mùa thu điNắng thủy tinh đều là hai nhạc phẩm bất tử về mùa thu mà cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại cho kho tàng âm nhạc VN. Đều lấy hình ảnh là một buổi chiều thu, nhưng nếu như Nắng thủy tinh là một “chiều nghiêng nghiêng bóng nắng qua thềm” thì buổi chiều trong Nhìn những mùa thu đi lại “đơn côi bàn tay quên lối, đưa em về nắng vương nhè nhẹ”. Trong cuộc đời của mỗi con người, ai rồi cũng sẽ phải đón nhận những mùa thu đi qua và “nghe tên mình vào quên lãng”. Mùa thu đến và đi để lại bao cảm xúc bâng khuâng, ngậm ngùi.

Khoảnh khắc hai nữ ca sĩ Khánh Ly và Lệ Thu cùng nhau đứng trên sân khấu thể hiện Nhìn những mùa thu điNắng thủy tinh là một hình ảnh đẹp đã in sâu vào ký ức của công chúng hâm mộ nhạc Trịnh (nghe ca khúc). Những hoài cảm sâu sắc của biết bao người nghe đã, đang và sẽ vẫn trào dâng mỗi khi những giai điệu êm đềm ấy được ngân vang. Mùa thu cũng là lúc để chúng ta hoài niệm về quá khứ, để tâm hồn mình “buồn dâng mênh mang” và lắng đọng theo từng nốt nhạc xưa cũ.

(Theo vnexpress.net)

[ Chung ] 07 July, 2011 00:52

Trong lúc ngồi chờ đợi những niềm vui mới của cuộc sống, bạn N lại nhớ đến những năm tháng xa xưa. Bạn ấy có một tuổi thơ đầy yêu thương và hạnh phúc, để rồi mỗi lần nhớ lại nó, một cảm xúc tha thiết, ngọt ngào và ấm áp lại tràn về đầy đặn.

Bạn ấy sinh ra béo tốt (3.4 kg cơ mà), khỏe mạnh, thông minh và nhiều tóc, nhưng cuộc sống đã làm bạn ấy ngày một dài ra, gày nhom, bướng bỉnh và khá là đần. Có lần hồi lớp 8, vào hôm trời đi vắng, bạn được mẹ cho ra đồng một buổi để được thưởng thức cảnh « ngày mùa vui thôn trang ». Khi ra về, bạn xung phong vác 10 cây ngô về nhà, mẹ thương tình nên chỉ lấy có 8 cây, thế mà đường về cũng trắc trở. Khi đi qua cây cầu độc mộc, bạn N bị một cơn gió đẩy rơi tùm xuống mương, phải mất một lúc mẹ bạn ấy mới vớt được bạn ấy lên. Nói thật, 8 cây ngô bây giờ bạn ấy chỉ cần búng một cái là tự bay về nhà ngay ngắn thẳng hàng.

Một lần khác theo mấy nhóc ra đồng bắt cua, hồi đó khoảng lớp 5, 6 gì đó. Bọn kia thì lành nghề, loáng một cái đã được nửa giỏ, bạn N dùng cái móc khêu được con nào ra khỏi tổ thì con ấy bị móc thủng bụng luôn. Cả buổi chiều được hơn chục con thì không có con nào sống sót. Một lần khác nữa, đi câu cá, bọn kia thì liên tục nhấc lên nào là rô, nào là giếc, còn N bị một con sọi cờ hay thần cấn gì đó trêu ngươi mãi, nó làm cái phao cứ nhấp nháy khiến bạn ấy cứ hồi hộp, hy vọng, và thất vọng. Mẹ bạn ấy cho rằng bạn ấy là người đần nhất làng, bạn ấy chẳng làm được việc gì cả nên tốt nhất cứ ở nhà mà học bài thì tốt hơn.

Nhưng ở nhà, bạn N cũng chẳng được tích sự gì. Bạn ấy hay xung phong rửa bát, và có đôi ba lần khi đang uống nước chè, bố bạn ấy nghe thấy tiếng choang choang dữ dội vọng lại, thì ra lúc ôm cái mâm bát đi rửa bạn ấy đã chạy và vấp một nhát ngã lộn tùng phèo. Nghiêm trọng hơn, hồi lớp 6, bạn ấy bị bỏng rất nặng vì trong lúc xách ấm nước đun sôi từ bếp lên nhà, vừa đi bạn ấy vừa tự tưới vào chân mình, sau đó do nóng quá đã vứt cả cái ấm đi và lăn ra kêu trời kêu đất. Bạn ấy là anh cả nên phải rửa bát, nấu cơm. Trong 90% số buổi nấu cơm, bạn ấy thường đun nồi cơm đến khi sôi thì dập lửa vứt đấy và chạy đi chơi với bọn trẻ con, mãi sau mới chạy về nấu nốt. Bạn ấy bị mẹ oánh phạt phải đến gần chục lần về sự đãng trí đó.

Bố bạn ấy chỉ oánh bạn ấy một lần duy nhất, và đó là câu chuyện sau đây. Bất đắc dĩ lắm bố bạn mới dùng roi đánh bạn, vì bố bạn xa nhà, xa con trong gần chục năm đầu của tuổi thơ của bạn ấy.

Bạn N tuy đần, đãng trí, nhưng cũng nghịch ngợm và bướng bỉnh vô cùng, nhất là hồi lớp 4. Một hôm bị ông nội phạt, bạn quay ra mắng lại ông một cách rất dữ dội. Ông tím mặt và đứng như trời trồng vì không kịp phản ứng gì với những câu nói hỗn xược của thằng nhóc. Bố nghe được chạy đến định bắt giữ và xử lý, nhưng không kịp rồi, nó đã chạy biến đi mất. Lần này bố bạn ấy quyết không tha nên đã cầm roi đuổi theo để bắt bằng được. Hồi đó ở quê không nhà ai có cổng, thành ra đi tắt rất tiện lợi, cứ từ sân nhà này đi qua vườn nhà kia dễ như không, và gần như lúc nào chúng ta cũng có thể đi được theo đường chim bay. Bố bạn N luôn ở phía sau bạn ấy vài mét, cuộc đua cũng giống như phim hành động Mỹ với cảnh sát phía sau luôn hú còi và tài tử đằng trước thì nhảy qua tường rất thiện nghệ. Xóm cũng bé nên thành ra đường đua là một vòng tròn. Chạy được khoảng 5 vòng, cho rằng mình có lỗi thật và bố đã mệt, bạn ấy đã tự động đứng lại cho bố bắt. Nhưng bố bạn ấy không hiểu được thiện chí này, thành ra bữa đó bố bạn ấy đã đánh bạn ấy hơi nhiều, có khi phải mấy chục roi phết vào cái mông bé tí.

Có một số lần bạn ấy trốn nhà đi bụi vì bị mắng và tự ái. Đến bữa ăn, đói quá không chịu nổi, bạn ấy thường phải tự động về nhà để kiếm ăn. Hành động này nói chung chẳng có gì đáng tự hào, vì bao giờ cũng thế, bạn ấy luôn phải trở về nhà trong cảnh bị cả nhà chế giễu.

Tệ hơn cả, bạn ấy thường phản ứng quá nhanh khi chưa kịp định thần. Một lần, nghe thấy tiếng gọi mơ hồ ngoài ngõ, chắc là ai rủ đi chơi, bạn ấy liền lao ra như một con thiêu thân. Kết quả, bạn ấy va vào người chạy ngược chiều và bị lòi cả xương ngón chân út ra ngoài. N đã sờ nắn cục xương ấy thấy không đau mấy, nhưng khi vào nhà qua ánh đèn nhìn thấy xương nhô ra, lúc đó bạn ấy mới khóc và khóc thì như chết đi sống lại.

Hôm nay tự nhiên nhớ đến ngày giỗ bà nội và ông ngoại, gọi điện hỏi em gái thì nó bảo giỗ đầu của bà đã qua gần hai tháng rồi, còn giỗ ông ngoại thì đã qua một tháng rồi. Tệ thật, thế mà bây giờ bạn ấy mới nghĩ đến. Không biết làm gì hơn, bạn N bùi ngùi nhớ đến tuổi thơ.

(Paris, 12/2010)

[ Chung ] 10 June, 2011 04:00

để tặng người tuyệt vọng

 

Những đêm không trăng sao

Những ngày không chói nắng

Những người đang khó khăn

Những kỳ mưa bão lâu

Những quầng con mắt sâu

Những bàn tay với lên

Những thời gian tối đen

Những đời không ánh đèn.

 

Em ơi em

Những khúc sống đang dầm mưa dãi gió

Khi người ta chỉ còn chết mà thôi

Ta hãy giữ chỉ một tia hy vong

Một tia thôi

để mà thắng và yêu.

 

(Trần Dần)

[ Chung ] 05 June, 2011 01:10

Aujourd'hui c'est le 4ème anniversaire de la mort de mon père, quelques mots seront écris pour que  je puisse trouver une tranquillité dans l'âme.

Un plus été français encore revient à vivre dans mes émotions fortes, un été comme les deux autres passés qu'il faisait beau tous les jours ceux qui sont en beaucoup de soleil, de vent, de fleurs... J'adore contempler le paysage et la vie, voir passionnément le soleil qui en dardant ses rayons à travers la fenêtre apporte dans mon âme une douce chaleur. Mais les étés, c'étaient des amusants bien loins dans l'enfance, et de la triste de l'espace vide indéfini d'un père qui a passé il y a quatre d'étés.

Il est rassuré en partant un après-midi de juin en cédant les dates douloureuses restant derrières. On a été sans lui en vie à partir de ce temps, et tous ces que dans mon âme ce sont les souvenirs avec lui. Cette note est à la mémoire de mon père.

[ Chung ] 02 June, 2011 02:43

Thầy Hưng là người thầy mà tôi kính trọng nhất, đã từ lâu tôi thầm coi thầy như người cha thứ hai của mình. Cuộc sống của tôi trong quá khứ gần, hiện tại và tương lai chịu rất nhiều ảnh hưởng của thầy. Một hình mẫu mà tôi đang học theo ở nhiều khía cạnh (tuy không phải là tất cả -vì cuộc sống của chúng tôi ngày nay khác rất nhiều thế hệ các thầy), nổi bật lên là một nhà khoa học có tâm, có tầm, có năng lực chuyên môn và có uy tín trong quan hệ quốc tế. 

Tôi đặc biệt thích những bài viết của thầy, bởi vì văn phong của một nhà Toán học bao giờ cũng chân thật, hào sảng và hài hước. Sau đây là một bài viết của thầy Hưng về thầy Nguyễn Hữu Anh, bài viết được đọc tại hội nghị của ngành năm 2005 tại TP. Hồ Chí Minh.

* * * * *

Bài viết về Giáo sư Nguyễn Hữu Anh

Tôi biết anh Nguyễn Hữu Anh 31 năm về trước trong một hoàn cảnh đặc biệt.

Tháng 10/1974, có một nhóm các nhà Toán học từ Pháp tới Hà Nội giảng về Lý thuyết Kỳ dị và Tai biến trong một tháng trời, bao gồm B. Malgrange, F. Phạm, A. Chenciner, và Lê Dũng Tráng. Để chuẩn bị cho hoạt động đó, cố Bộ trưởng Tạ Quang Bửu đã viết một bài dài trên báo Nhân Dân giới thiệu về lý thuyết này. Cần nói rõ rằng hồi đó Miền Bắc nước ta chưa có nhiều báo chí như bây giờ, và chỉ những bài chính thống vào bậc nhất mới được in trên báo Nhân Dân. Lúc ấy tôi đang học năm thứ tư trong khoá đào tạo thời đó gồm 4 năm rưỡi tại Khoa Toán Đại học Tổng hợp Hà Nội. Lũ 3 đứa lớp tôi gồm Đặng Hùng Thắng, Đào Kiến Quốc và tôi được Khoa Toán cho phép nghỉ học chính khoá suốt tháng 10 để đi nghe những bài giảng nói trên.

Ba người giảng chính là Malgrange, Phạm, và Chenciner nối tiếp nhau giảng bằng tiếng Pháp, mỗi người một giờ mỗi buổi sáng. Riêng Lê Dũng Tráng thỉnh thoảng bổ sung một bài giảng, anh cố gắng nói bằng tiếng Việt, dù lúc đó tiếng Việt của anh chưa được trôi chảy như về sau này. Người nghe ngồi chật cả một phòng lớn ở tầng 3 toà nhà chính ĐHBK Hà Nội. Lúc ấy, không mấy người nghe được tiếng Pháp, nên chúng tôi cần phiên dịch. Hai phiên dịch thay phiên nhau, một là GS Đoàn Quỳnh và người thứ hai còn rất trẻ và lạ, tên là Nguyễn Hữu Anh, tiến sĩ được đào tạo tại Mỹ mới về nước, làm việc tại ĐHBK Hà Nội.

Anh Nguyễn Hữu Anh nói tiếng Pháp (và, như sau này tôi được biết, cả tiếng Anh nữa) rất trôi chảy với một ngữ điệu đẹp. Khó khăn mà anh ít nhiều gặp phải lúc bấy giờ chính là phần tiếng Việt, lý do là vì các nhà toán học ở hai miền nước ta trong một thời gian dài trước năm 1975 đã dùng những thuật ngữ toán học rất khác nhau. Chẳng hạn, Không gian tôpô (miền Bắc) cũng được kêu bằng Đồ hình vị tướng (miền Nam), Không gian tôpô compact địa phương là Đồ hình vị tướng áp súc cục bộ, Môđun được kêu bằng Gia quần, Môđun con là Tiểu gia quần... (Chữ này thật khó cho những người nói giọng Hà Nội như tôi.)

Sau tháng 10/1974, được khích lệ bởi loạt bài giảng nói trên, ở Hà Nội trong một thời gian dài có một xêmina do các giáo sư Đoàn Quỳnh, Hoàng Hữu Đường, Phạm Ngọc Thao, Phan Đức Chính, Nguyễn Hữu Anh... chủ trì. Xêmina làm về một số vấn đề hiện đại của toán học: Nhóm Lie và Đại số Lie, Lý thuyết biểu biễn, Hình học Riemann toàn cục, Lý thuyết Kỳ dị... Trong xêmina, tôi có nhiều thời gian hơn để nói chuyện với anh Nguyễn Hữu Anh. Tôi được biết anh đã học đại học tại Sài gòn (1963-66), nơi anh chịu nhiều ảnh hưởng của GS Đặng Đình Áng, lấy bằng tiến sĩ tại University of California, Los Angeles (UCLA) (1967-69) dưới sự hướng dẫn của GS D. Babitt (ông này trong nhiều năm làm Tổng biên tập tạp chí Pacific Journal of Mathematics), rồi làm postdoct tại Princeton (1969-71) với GS Harish Chandra, sau đó anh tiếp tục làm postdoct một thời gian ở Queen’s University, Canada (1971-73) trước khi về nước năm 1974, lúc anh 29 tuổi.

Sinh viên ĐHBK Hà Nội hồi đó truyền tai nhau rằng thầy Nguyễn Hữu Anh thường gặm bánh mì ngay trong phòng thi, để hỏi thi thông tầm từ sáng đến tối. Rất nhiều sinh viên bị thầy đánh trượt.

GS Đặng Đình Áng và nhiều người từng ở Đại học Khoa học Sài gòn đánh giá anh Nguyễn Hữu Anh ngày xưa là sinh viên xuất sắc nhất của Khoa Toán đại học này trong suốt mấy chục năm. Trong thời gian làm nghiên cứu sinh ở UCLA không phải anh Anh đã tham gia phản chiến ngay từ đầu. Nhưng dần dần, chính hệ thống truyền thông của nước Mỹ đem cuộc chiến tranh Việt Nam tới từng đầu giường ngủ đã đưa anh đến với phong trào phản chiến. Ngày ngày tivi Mỹ đặc tả những trận càn, xóm làng miền Nam Việt Nam tan hoang, lính Mỹ và lính Sài Gòn cứ chiều tối lại ôm càng trực thăng bỏ chạy... Thế rồi anh Anh xuống đường với phong trào phản chiến. Tôi đã thức nhiều đêm ở Berkeley để nghe một người bạn của anh trong phong trào sinh viên phản đối chiến tranh Việt Nam, anh Đoàn Hồng Hải, kể về những năm tháng hào hùng của các anh.

Rời bỏ nước Mỹ, đất nước có mức sống rất cao và nền khoa học hàng đầu thế giới, để về Việt Nam, mà về Hà Nội khi đất nước còn chia cắt, chứ không phải Sài gòn, nơi anh sinh ra và lớn lên, anh Nguyễn Hữu Anh đã có những quyết định mà chắc chắn bất kì ai cũng không thể chọn lựa một cách dễ dàng. Tôi thấy anh Nguyễn Hữu Anh có một cuộc đời không bằng lặng. Vậy mà anh dường như không có gì phải dằn vặt, lúc nào cũng hồn nhiên, hồ hởi, chân thành. Anh như một ngọn nến bình thản cháy mà tôi và nhiều bạn bè cùng thế hệ thường nhìn vào để bình tâm lại mỗi khi chúng tôi phải vật lộn với những sự chọn lựa.

Khi còn sống độc thân ở ĐHBK Hà Nội, anh Nguyễn Hữu Anh được phân căn gác lửng ở tầng một-rưỡi một toà nhà gần sân vận động của trường (Đông Dương học xá cũ). Đó là căn gác rộng chừng 8-9 mét vuông, ở chiếu nghỉ cầu thang nằm giữa tầng một và tầng hai. Một vài lần tôi đã tới thăm anh ở căn gác đó. Nhưng khi ấy tôi chưa biết ở những nước phát triển thì người ta thường sống trong những chỗ như thế nào, cho nên tôi cũng không biết rằng sống như thế là bình thường hay là phi thường. Chính trong căn gác đó, anh Nguyễn Hữu Anh đã viết bài báo mà sau này được in trên Annals of Mathematics. Đó là tạp chí toán học số 1 trên thế giới. Và bài báo của anh Nguyễn Hữu Anh cho tới nay vẫn là bài duy nhất của một người Việt viết trong lúc đang sống và làm toán trong nước, được in trên Annals. (Có một thực tế là tạp chí này thường ít khi đăng bài của những người chưa từng ở Princeton và không có quan hệ chuyên môn khăng khít với một giáo sư nào có thế lực ở đó.) Chúng ta đã có dịp bàn về chất lượng và số lượng trong khoa học. Chỉ xin nhắc lại một sự thật hiển nhiên là chất lượng chứ không phải số lượng của các công trình chính là cái tạo nên đẳng cấp của một nhà toán học, và rộng ra, tạo nên diện mạo của một nền toán học. Hãy tự hỏi lòng mình xem nếu được quyền chọn lựa giữa một bên là làm tác giả của một trong những bài thơ như Hoàng hạc lâu (Thôi Hiệu), hay Đề đô thành Nam trang (Thôi Hộ), hay Phong kiều dạ bạc (Trương Kế) với một bên là làm tác giả của cả một tập thơ dày cộp vẫn thường được in ra sau những cuộc thi thơ gần đây thì ta sẽ chọn cái gi.

Năm 1978, anh Nguyễn Hữu Anh cùng gia đình chuyển vào Sài Gòn. Trong nhiều năm anh làm Chủ nhiệm Bộ môn Đại số, Chủ nhiệm khoa Toán ĐHKH thành phố Hồ Chí Minh, và hiện nay là Chủ tịch Hội Toán học thành phố Hồ Chí Minh. Cá nhân tôi tin rằng một người có trình độ cao, hiểu biết tường tận về lối đào tạo theo chứng chỉ của Mỹ và có quan hệ quốc tế rộng rãi như anh Nguyễn Hữu Anh nếu được đặt vào cương vị Hiệu trưởng sẽ rất có lợi cho trường đại học ấy.

Trong những năm 1980, anh nhiều lần được đồng nghiệp mời sang Mỹ trao đổi khoa học. Lúc đầu thì phía Việt Nam không cho anh đi, nguyên do là vì anh có một bà chị di tản sang Mỹ. Về sau, khi phía Việt Nam cho anh đi thì phía Mỹ lại không cấp visa, bởi vì họ vẫn còn “ghi sổ đen” những hoạt động phản chiến của anh. Mãi sau này, nhờ có một Thượng nghị sĩ Mỹ can thiệp, anh mới có những chuyến trở lại trao đổi khoa học với các đồng nghiệp Mỹ.

Nhân những lúc trà dư tửu hậu mà chuyện phiếm, một số anh em ở ĐHTH Hà Nội (cũ) chúng tôi thường ví các nhà toán học với rượu, một sự so sánh đầy kiêu hãnh. Rượu là thứ thú vị bậc nhất trên đời này. Đó là sự pha trộn không biên giới của nước và lửa, của ngọt ngào và cay đắng, hạnh phúc và khổ đau. Trong ví von đó, các nhà toán học Việt Nam chủ yếu thuộc về hai dòng: Toán học Quốc doanh và Toán học Quốc lủi. Rượu Quốc doanh do nhà nước sản xuất, có tính “chính thống”, với nhãn mác qui chuẩn; còn rượu Quốc lủi (dân Miền Nam gọi là rượu đế) do nhân dân nấu trộm, nên nó “dân dã”, và cũng vô danh như nhân dân vậy. Chữ Quốc lủi còn đồng âm với Cuốc lủi, tên một loài chim đầy nỗi niềm thường lẩn trốn rất nhanh. (“Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc.” – Bà Huyện Thanh Quan). Đáng tiếc là ngày nay các nhà toán học quãng dưới 40 tuổi nói chung không còn hiểu nghĩa các chữ Quốc doanh và Quốc lủi cùng hoàn cảnh ra đời của những khái niệm này.

Mấy anh em dòng Toán học Quốc lủi chúng tôi mạn phép cho rằng anh Nguyễn Hữu Anh cũng thuộc dòng toán học này. Không biết anh Anh có chia xẻ ý tưởng này và lượng thứ cho sự tếu táo của chúng tôi hay không?

Mới đó mà anh Anh đã 60 tuổi. (Anh sinh ngày 7/4/1945.) Dạo đầu năm, tôi nghĩ rằng trong năm nay tôi sẽ không có đủ thời gian để viết về những kỉ niệm với anh. Tôi tự an ủi là tôi đã có một bài báo với lời mừng thọ anh in trên Transactions Amer. Math. Soc. 357 (2005), 4065-4089.

Năm nay tôi bận và mệt quá, vì phải làm nhà. Hơn 50 tuổi mà còn để vợ con phải sống trong một căn nhà cấp 4, tôi tự thấy mình có tội. Trong câu thơ Xuân Sách viết về Hữu Loan, tác giả của “Màu tím hoa sim”: “Cho đến khi tóc bạc da mồi / Chưa làm được nhà, còn bận làm người” tôi như thấy có một phần cuộc đời mình. Nhưng khi năm 2005 sắp hết, tôi tự thấy không thể yên lòng nếu không viết bài này.

Anh Nguyễn Hữu Anh là một người sành ăn và sành rượu vang. Khổ một nỗi, ngày nay ở nước ta các thứ vang nổi tiếng, như Bordeaux chẳng hạn, thường bị làm giả. Anh Anh có lần nói đùa: “Khi các em mang rượu vang ra thì phải sờ đít ngay, đít bằng thì dỏm đít lõm thì nghiêm” Đó là cái đít chai rượu. Nhưng ngay cả cách chọn rượu rất tài hoa đó cũng nhiều khi không giúp người ta tránh được rượu rởm. Vì thế mà một năm đôi lần anh Nguyễn Hữu Anh và tôi gặp nhau, chúng tôi thường tránh những loại vang đã được xem là có mác chuẩn, mà dùng vang California, vang Chilê... Những thứ vang quê kệch này còn vô danh, cho nên không bị làm giả. Anh Anh còn nhớ cái chai vang đỏ Chilê mà anh em mình uống ở quán Hot Rock không? Đậm chát vị nắng Chilê dân dã phải không anh?

Hà Nội, mùa nắng hanh 2005

Nguyễn Hữu Việt Hưng

 

[ Chung ] 20 May, 2011 02:56

Đường link http://holequy.com/index.aspx?p=ndt&id=487&mid=

Dân gian có câu "Con hơn cha là nhà có phúc", câu nói đó rất phù hợp nhà bác học Việt Nam Lê Quý Đôn thế kỷ 18, và cha của ông là Lê Trọng Thứ (1693 - 1781). Đạo đức của ông Lê Trọng Thứ ảnh hưởng sâu sắc đến Lê Quý Đôn. Khi cha con ông làm quan trong triều, vua Lê Cảnh Hưng khen ngợi: "Cha con người thật làm vẻ vang cho sông núi nước Nam. Hãy cố gắng hơn nữa để khỏi phụ lòng xã tắc".

Ông Lê Trọng Thứ người xã Diên Hà, tổng Diên Hà, huyện Diên Hà, phủ Tiên Hưng (nay là làng Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Lúc nhỏ còn có tên là Lê Phú Thứ, ông sinh năm 1693 và mất năm 1781.

Ông học giỏi từ khi đi thi hương cống ở Sơn Nam, đến khi lên học ở Quốc Tử Giám, bài làm của ông đều được phê điểm ưu. Ông thi đỗ tiến sĩ năm Giáp Thìn (1724) lúc 31 tuổi, sau đó được bổ nhiệm vào Viện hàn lâm, đến năm 79 tuổi thì về hưu. Ông từng giữ tới chức Thượng thư bộ Hình. Về tước vị, ông được phong từ tước bá "Diên phương bá" đến tước hầu "Diễn phái hầu". Khi qua đời, ông được tặng hàm Thái bảo, tước Hà quận công. Ông còn có hiệu Trúc Am và có "Trúc Am thi văn tập". Ông là một người cha mẫu mực, một ông quan cần mẫn liêm chính, thẳng thắn trung thực, hết lòng vì dân vì nước. Khi công danh tột đỉnh cũng như khi về quê, ông luôn luôn sống giản dị, kính già yêu trẻ. Chúng ta không thể hình dung nổi cuộc đời làm quan của ông biết bao thăng trầm, trắc trở.

Sử sách viết về ông: "Trọng Thứ là người chất phác, bộc trực, dám nói thẳng, là một chỗ dựa vững chắc của triều đình" (Việt sử thông giám cương mục - chính biên, Nhà xuất bản Sử học). Chúa Trịnh Doanh cũng phải khen ông là người trung thực dám nói thẳng và ban cho ông bốn chữ "Đặc hiệu hảo ân" (Ân huệ đặc biệt danh tiếng tốt đẹp). Vì "trung ngôn nghịch nhĩ", nói thẳng thì khó nghe, mà cuộc đời phải trải qua bao thăng trầm.

Để cuối cùng có được đánh giá và những lời ban khen ấy, ông đã từng bị giáng chức, cách chức. Khi tiến sĩ Trần Hiền bị Trần Cảnh vì thù riêng mà vu oan, ông dám đương đầu bảo vệ Trần Hiền (Hiền là thầy dạy Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ hai thủ lĩnh nghĩa quân) để rồi bị giáng chức đi làm giám sát Hải Đông. Vì tranh luận với Nguyễn Công Hằng về hình luật, ông bị giáng xuống hai bậc, bị giải nhiệm, không được họp bàn ở viện cơ mật. Ông còn dâng khải kể bảy tội của Đỗ Thế Giai, bị cách chức cho về quê. Tháng giêng năm 1740, ông mới được phục chức. Lê Trọng Thứ không chỉ đối mặt với "quan tham" mà ngay cả với chúa Trịnh, ông cũng phê phán những việc làm không đúng của chúa Trịnh.

Một lần Trịnh Doanh hỏi ông về lão thần quận Triệu Nguyễn Huy Nhuận (bị Đỗ Thế Giai dèm pha), ông nói: "Các bậc lão thần có danh vọng đối với nước nhà cũng như những cây cao đối với cánh rừng. Rừng không thể một lúc mọc ngay cây to. Triều đình không phải một khoa thi mà kén chọn được ngay người tài giỏi, lịch duyệt. Bây giờ nếu để cho bìm bìm leo đổ đại thụ, bậc lão thần có danh vọng chỉ vì mấy lời dèm pha mà bị cách chức thì còn ai không lo cho thân phận mình". Cũng nhân việc này ông dâng khải trình bày về việc trọng hiền đãi sĩ.

Những việc của dân, ông cũng từng mạnh dạn tâu trình. Có lần ông nói với Trịnh Doanh: "Nhà nước đã thu thuế ruộng mấy lần, nay lại đánh thuế các hộ làm muối. Chỉ có một mảnh đất mà mấy lần đóng thuế. Như vậy dân nghèo khó bề nuôi sống vợ con". Chúa Trịnh nghe ông bãi bỏ thuế muối.

Một lần ưu binh làm loạn, Trịnh Doanh định đưa quân đến đàn áp, ông nói: "Không nên vì tổ kiến để vỡ đê dài" rồi ông tình nguyện đi gặp ưu binh. Bằng lời nói, bằng tấm gương sáng về đạo đức của mình, ông đã giải tán được đám ưu binh, tránh được một cuộc đổ máu.

Sáu mươi lăm tuổi ông xin về hưu. Trịnh Doanh không đành được, cho ông về, nhưng chỉ một năm sau lại triệu ông ra làm quan.

Tác giả: Phạm Minh Đức

(Vietarch.org)

[ Chung ] 25 April, 2011 01:21

1. Các bác trong làng mình vừa thông báo, sáng nay, rằng đã tìm được mộ của cụ Thủy Tổ Phúc Thiện Công ngay tại quê nhà, nhờ sự giúp đỡ của một nhà ngoại cảm có tiếng ở Hà Nội. Điều thú vị là những thông tin mà nhà ngoại cảm này đưa ra trùng khít với thực tế khi ngôi mộ được khai quật. Cụ Thủy Tổ là người mở ra một dòng họ lớn của làng mình, dòng họ Lê Quý,  cụ Thủy Tổ cũng chính là cụ nội của Lê Quý Đôn, ông nội của Lê Trọng Thứ. Đây thực sự là một sự kiện đang gây chấn động ở làng.

Nhà ngoại cảm cho rằng mộ của Lê Quý Đôn cũng được đặt trong làng và sẽ sớm được tìm thấy. Trước đây, người ta cho rằng mộ của ông được đặt tại (quê mẹ) Hà Nam nhưng bị thất lạc chưa xác định được.

Gọi cụ Phúc Thiện là cụ Thủy Tổ vì không ai biết được cha của cụ. Tương truyền rằng cụ có nguồn gốc Hoàng gia họ Lý, quê ở xã Đình Bảng, huyện Đông Ngạn, xứ Kinh Bắc; hồi bé mang họ Bùi, cùng mẹ đi ăn xin và gặp được một gia đình họ Lê khá giả, nhân đức nhưng không có con nhận làm con nuôi, và đổi sang họ Lê khi cụ vừa 6 tuổi. Sau khi nhận Phúc Thiện làm con nuôi, gia đình này sinh liền hai đồng chí con trai :D. Phúc Thiện sinh được 5 người con trai (và 3 cô con gái), người con cả mất sớm, còn lại Phúc Lương, Phúc Ân, Phúc Điền, Phúc Lý. Trong khi Phúc Lương, Phúc Điền thích cuộc sông điền viên an nhàn thì Phúc Ân, Phúc Lý lại xem trọng sự học hành và phát triển dòng họ. Việc đầu tiên Phúc Lý, Phúc Ân (vai trò Phúc Lý cao hơn dù là em) coi trọng nhất là tìm nơi đất tốt để cải táng cho cha mẹ. Sau này hai chi Phúc Ân và Phúc Lý đều rất phát triển, đặc biệt con cháu của cụ Phúc Lý rất hiển hách, tiêu biểu là con trai thứ Lê Trọng Thứ đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân (1 trong 14 người đồng giải ba), khoa thi năm Giáp Thìn (1724), cháu trai trưởng Lê Quý Đôn đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ 1 người, khoa thi năm Nhâm Thân (1752), ...

2. Dòng họ mình cũng vừa mới lập được một trang web để tiện việc liên lạc và củng cố thông tin: http://holequy.com/

Có một chi tiết đáng lưu ý trong gia phả: trong cây phả hệ đó, đường duy nhất nối các "đỉnh" Lê Quý Đôn (4th generation) và LQT (12th generation) bắt buộc phải đi qua "đỉnh gốc"-cụ Thủy Tổ (1st generation). Nói rõ hơn, Lê Quý Đôn nằm ở Chi cụ Phúc Lý (con út cụ Thủy Tổ), mình nằm ở Chi cụ Phúc Ân (con thứ).

3. Gần chục năm nay mình không về dự hội làng, 14 tháng Tư âm lịch- ngày giỗ Lê Quý Đôn. Nhớ hồi xưa, hội làng có nhiều hoạt động thú vị phết, trong đó có trò đi cầu Kiều và trò thi bắt vịt trên hồ (thả vài con bơi trên hồ và dân tình nhảy xuống đuổi bắt).

Tại cái hồ đó, hồi lớp 8 ngày nào mình cũng đi học sớm để đến đó tắm, rồi đứng từ trên bờ nhảy lộn một vòng trước khi rơi tùm xuống đó. Có lần sau khi yên vị ở đáy hồ, mình thấy khó cựa quậy quá vì bên nào cũng vướng. Hóa ra sau cú lộn đầu mình rơi lọt thỏm vào khe nứt của bậc cầu hồ xây bằng gạch. Thật khó tưởng tượng, vì sự hoàn hảo đó, nếu chệch đi một vài centimet chắc mình die rồi :))

Lại nhớ cái hồ đó, đặc điểm của nó là ở giữa nông còn bốn xung quanh rất sâu. Bọn trẻ con hay bơi ra giữa hồ và chơi trò đuổi nhau. Thằng lớp trưởng siêu sao của lớp mình không biết bơi nhưng vẫn muốn được ra giữa hồ, thế là mình cho nó ngồi lên vai và bơi ra giữa - nhưng không bơi được vì nó nặng quá khiến chân mình như đeo đá. Đến chỗ sâu nhất, chân mình ngập sâu vào bùn, nước thì ngập đầu không thở được. Đã thế, thằng nhóc đó sợ, nó lại càng bám chặt và khóa cổ mình lại, mình được một phen hoảng hồn, lấy hết sức mới thoát hiểm được. Trẻ con nghịch dại thật!!!

 

PS: Thông tin trên không chính xác nên tôi phải đóng entry này để tìm hiểu (gọi về hỏi lại gia đình). Thực ra ngôi mộ vừa phát hiện không phải của cụ thủy tổ dòng họ Lê Quý, Phúc Thiện Công, mà chỉ là ngôi mộ của con trai của ông, Phúc Lý. Việc khai quật đã thu được thêm nhiều thông tin khảo cổ, một số hiện vật cổ đang chờ được xác minh niên đại.

[ Chung ] 16 April, 2011 20:51
Lê Quý Đôn ngay từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, năm 27 tuổi đỗ Đình Nguyên, làm tới chức Bồi tụng. Ông được coi là nhà bác học lớn nhất của Việt Nam trong lịch sử trung đại, là tác giả của 40 bộ sách gồm hàng trăm quyển viết về nhiều lĩnh vực khác nhau. Ngoài ra, ông còn có cuốn Quế Đường thi tập với nghệ thuật thơ phong phú, đa dạng, tư tưởng sâu xa.

Lê Quý Đôn (1726 - 1784) quê tại Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ (nay thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình), nguyên là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh ngày 2/8/1726, trong một gia đình khoa bảng; cha là tiến sĩ Lê Trọng Thứ, quê tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, chăm học. Năm 14 tuổi, Lê Quý Đôn theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long. Lúc ấy cậu bé 14 tuổi đã học xong toàn bộ sách kinh, sử của Nho gia. 18 tuổi, Lê Quý Đôn thi Hương đỗ Giải nguyên. 27 tuổi đỗ Hội nguyên, rồi đỗ Đình Nguyên Bảng nhãn. Sau khi đã đỗ đạt, Lê Quý Đôn được bổ làm quan và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều Lê - Trịnh, như: Hàn lâm thừa chỉ sung Toản tu quốc sử quán (năm 1754), Hàn lâm viện thị giảng (năm 1757), Đốc đồng xứ Kinh Bắc (năm 1764), Thị thư kiêm Tư nghiệp Quốc tử Giám (năm 1767), Tán lý quân vụ, Thị phó đô ngự sử (năm 1768), Công bộ hữu thị lang (năm 1769), Bồi tụng (Phó thủ tướng) (năm 1773), Lại bộ tả thị lang kiêm Tổng tài quốc sử quán (năm 1775), Hiệp trấn tham tán quân cơ Trấn phủ Thuận Hóa (năm 1776), Hiệp trấn Nghệ An (năm 1783), Công bộ thượng thư (năm 1784)...

Lê Quý Đôn mất ngày 1/5/1784 tại quê mẹ, làng Nguyên Xá, huyện Duy Tiên (nay thuộc Hà Nam). Thi hài ông được đưa về mai táng ở quê nhà.

Trong cuộc đời làm quan của Lê Quý Đôn, có mấy sự kiện sau có ảnh hưởng lớn đối với sự nghiệp trước tác, văn chương của ông. Đó là chuyện đi sứ Trung Quốc năm 1760 - 1762. Tại Yên Kinh (Bắc Kinh), Lê Quý Đôn gặp gỡ các sứ thần Triều Tiên, tiếp xúc với nhiều trí thức nổi tiếng của nhà Thanh, bàn luận với họ những vấn đề sử học, triết học... Học vấn sâu rộng của ông được các học giả Trung Quốc, Triều Tiên rất khâm phục. Ở đây, Lê Quý Đôn có dịp đọc nhiều sách mới lạ, kể cả sách của người phương Tây nói về địa lý thế giới, về ngôn ngữ học, thủy văn học... Đó là các đợt Lê Quý Đôn đi công cán ở các vùng Sơn Nam, Tuyên Quang, Lạng Sơn những năm 1772, 1774, làm nhiệm vụ điều tra nỗi khổ của nhân dân cùng tệ tham nhũng, ăn hối lộ của quan lại, khám đạc ruộng đất các vùng ven biển bị địa chủ, cường hào địa phương man khai, trốn thuế... Chính nhờ quá trình đi nhiều, thấy nhiều, nghe nhiều, biết nhiều việc đời như vậy mà kiến thức Lê Quý Đôn trở nên phong phú vô cùng. Ông viết trong lời tựa sách Kiến văn tiểu lục: "Tôi vốn là người nông cạn, lúc còn bé thích chứa sách, lúc trưởng thành ra làm quan, xem lại sách đã chứa trong tủ, vâng theo lời dạy của cha, lại được giao du nhiều với các bậc hiền sĩ đại phu. Thêm vào đấy phụng mệnh làm việc công, bốn phương rong ruổi: mặt bắc sang sứ Trung Quốc, mặt tây bình định Trấn Ninh, mặt nam trấn thủ Thuận Quảng (Thuận Hóa, Quảng Nam). Đi tới đâu cũng để ý tìm tòi, làm việc gì mắt thấy tai nghe đều dùng bút ghi chép, lại phụ thêm lời bình luận sơ qua, giao cho tiểu đồng đựng vào túi sách".

Ngoài đầu óc thông tuệ đặc biệt cộng với vốn sống lịch lãm và một nghị lực làm việc phi thường, phải kể đến thời đại mà Lê Quý Đôn sống. Và ông là đứa con đẻ, là sản phẩm của thời đại ấy kết tinh lại.

Lê Quý Đôn sống ở thế kỷ thứ 18 thời kỳ xã hội Việt Nam có nhiều biến động lớn. Trong lòng xã hội Việt Nam đầy mâu thuẫn khi ấy đang nảy sinh những mầm mống mới của thời kỳ kinh tế hàng hóa, thị trường trong nước mở rộng, thủ công nghiệp và thương nghiệp có cơ hội phát triển... Tình hình đó đã tác động mạnh mẽ tới đời sống văn hóa, tư tưởng, khoa học. Ở thế kỷ 18, xuất hiện nhiều tên tuổi rực rỡ như Đoàn Thị Điểm, Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Lê Hữu Trác... Đồng thời các tri thức văn hóa, khoa học của dân tộc được tích lũy hàng ngàn năm tới nay đã ở vào giai đoạn súc tích, tiến đến trình độ phải hệ thống, phân loại. Thực tế khách quan này đòi hỏi phải có những bộ óc bách khoa và Lê Quý Đôn với học vấn uyên bác của mình đã trở thành người "tập đại hành" mọi tri thức của thời đại. Có thể nói, toàn bộ những tri thức cao nhất ở thế kỷ thứ 18 đều được bao quát vào trong các tác phẩm của Lê Quý Đôn. Tác phẩm của ông như cái mốc lớn đánh dấu thành tựu văn hóa của cả một thời đại với tất cả những ưu điểm cùng nhược điểm của nó.

Tác phẩm của Lê Quý Đôn thống kê có tới 40 bộ, bao gồm hàng trăm quyển, nhưng một số bị thất lạc. Những tác phẩm tiêu biểu của Lê Quý Đôn còn giữ được có thể kể ra như sau:

- Quần thư khảo biện, tác phẩm chứa đựng nhiều quan điểm triết học, lịch sử, chính trị được viết trước năm ông 30 tuổi.

- Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn làm xong lúc ông 30 tuổi. Đây là một loại "bách khoa thư", trong đó tập hợp các tri thức về triết học, khoa học, văn học... sắp xếp theo thứ tự: Vũ trụ luận, địa lý, điển lệ, chế độ, văn nghệ, ngôn ngữ, văn tự, sản vật tự nhiên, xã hội... Vân đài loại ngữ là bộ sách đạt tới trình độ phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa khá cao, đánh dấu một bước tiến bộ vượt bậc đối với nền khoa học Việt Nam thời phong kiến.

- Đại Việt thông sử, còn gọi Lê triều thông sử, là bộ sử được viết theo thể ký truyện, chép sự việc theo từng loại, từng điều một cách hệ thống, bắt đầu từ Lê Thái Tổ đến Cung Hoàng, bao quát một thời gian hơn 100 năm của triều Lê, trong đó chứa đựng nhiều tài liệu mới mà các bộ sử khác không có, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Minh.

- Kiến văn tiểu lục, là tập bút ký nói về lịch sử và văn hóa Việt Nam từ đời Trần đến đời Lê. Ông còn đề cập tới nhiều lĩnh vực thuộc chế độ các vương triều Lý, Trần, từ thành quách núi sông, đường xá, thuế má, phong tục tập quán, sản vật, mỏ đồng, mỏ bạc và cách khai thác cho tới các lĩnh vực thơ văn, sách vở...

- Phủ biên tạp lục, được viết trong thời gian Lê Quý Đôn làm Hiệp trấn Thuận Hóa. Nội dung ghi chép về tình hình xã hội Đàng Trong từ thế kỷ thứ 18 trở về trước.

Công trình biên soạn lớn nhất của Lê Quý Đôn là bộ Toàn Việt thi lục 6 quyển, tuyển chọn 897 bài thơ của 73 tác giả từ thời Lý đến đời Lê Tương Dực (1509 - 1516). Lê Quý Đôn hoàn thành Toàn Việt thi lục năm 1768, dâng lên vua, được thưởng 20 lạng bạc.

Về sáng tác văn xuôi, theo Phan Huy Chú, Lê Quý Đôn có Quế Đường văn tập 4 quyển, nhưng sách này đã mất. Về sáng tác thơ, Lê Quý Đôn để lại có Quế Đường thi tập khoảng vài trăm bài làm ở trong nước và trong thời gian đi sứ Trung Quốc.

Nhận xét tổng quát về thơ Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú viết: "Ông là người học vấn rộng khắp, đặt bút thành văn. Cốt cách thơ trong sáng. Lời văn hồn nhiên..., không cần suy nghĩ mà trôi chảy dồi dào như sông dài biển cả, không chỗ nào không đạt tới, thật là phong cách đại gia".

Quan niệm về thơ của Lê Quý Đôn được tổng hợp lại như sau: "Làm thơ có 3 điểm chính: một là tình, hai là cảnh, ba là việc. Tiếng sáo thiên nhiên kêu ở trong lòng mà động vào máy tình; thị giác tiếp xúc với ngoài, cảnh động vào ý, dựa cổ mà chứng kim, chép việc thuật chuyện, thu lãm lấy tinh thần... đại để không ngoài ba điểm ấy".

Đây là những tiêu chuẩn về thơ mà Lê Quý Đôn đề ra cho quá trình sáng tác của mình. Đọc thơ Lê Quý Đôn, chúng ta thấy thơ ông thật phong phú đa dạng, sâu sắc về tư tưởng, nghệ thuật và để lại trong lòng ta những xúc động đẹp đẽ, sâu xa:

Thành cổ lộng

Thành hoang tường đổ đã bốn trăm năm,
Dây dưa, dây đậu leo quấn xanh tốt.
Sóng biết đã rửa sạch nỗi hận cho vua Trần,
Cỏ xanh khó che lấp sự hổ thẹn của Mộc Thạnh.
Sau trận mưa bò vàng cầy bật gươm cũ,
Dưới trăng chim lạnh kêu bên lầu tàn.
Bờ cõi cần gì phải mở rộng mãi
Đời Nghiêu Thuấn xưa chỉ có chín châu thôi.

(Bản dịch nghĩa)

 

* Theo Tạp chí Quê hương online

[ Chung ] 08 April, 2011 04:26

Sau đây là bản dịch của tôi về bài viết được cho trên đường link http://www.sciencesmath-paris.fr/index.php?page=79

(FL là giáo sư hướng dẫn luận án TS của tôi)

alt

 

Trải qua lớp dự bị đại học tại trường trung học Louis-le-Grand, rồi Ecole Normale Supérieure (ENS), … François Loeser đã đi theo một con đường chuẩn mực nhất để trở thành một nhà toán học. Ra nhập CNRS năm 1985, đến năm 1989 ông trở thành giáo sư tại Đại học Pierre & Marie Curie (UPMC), và từ năm 2000, là giáo sư tại Khoa Toán học và Ứng dụng, trường ENS. Tháng 9/2010, ông rời ENS để trở lại UPMC và Viện Toán học Jussieu. François Loeser vừa nhận Giải thưởng nghiên cứu của Hội đồng Khoa học châu Âu (Advanced Investigator Grant de l’European Research Council) giai đoạn 2010-2014, đây là một giải thưởng quan trọng mang tầm vóc châu Âu.

Tại gianh giới của bốn hướng nghiên cứu

François Loeser bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu với lĩnh vực về các điểm kì dị, tức là các điểm trong một đối tượng hình học mà tại đó có sự phân nhánh (các điểm kì dị có thể là các điểm nhọn của một đường cong hoặc các điểm tự cắt của một mặt nào đó). Sau đó ông quan tâm đến những nghiên cứu về lý thuyết tích phân p-adic, lý thuyết tích phân motivic, và gần đây là lý thuyết mô hình. « Từ một góc độ nào đó, tôi không phải là một chuyên gia trong một lĩnh vực cụ thể, mà ở gianh giới của bốn hướng nghiên cứu : các điểm kì dị, hình học đại số, lý thuyết số và lý thuyết mô hình », ông giải thích, trước khi bổ sung thêm nhận xét « Trong sự nghiệp, tôi cảm thấy rằng mình đã nhiều lần tiến hành sự thay đổi hướng nghiên cứu, nhưng trên thực tế, sau khi nhìn lại, tôi nhận ra rằng đã có một sự thống nhất trong tất cả những gì mà tôi đã trải qua. Thậm chí, ngay cả khi có tăng cường thêm về mặt kĩ thuật tôi vẫn tiếp tục làm việc trên những vấn đề tương tự. »

Tích phân p-adic

Trong lý thuyết cổ điển, tích phân được tính trên tập hợp các số thực. Chẳng hạn, người ta sử dụng tích phân để tính các diện tích. Trong lý thuyết số, bên cạnh trường số thực, các trường số mới đã xuất hiện, ví dụ quan trọng nhất là trường các số p-adic (ở đây p là một số nguyên tố). Trong nghiên cứu về các lý thuyết tích phân, bài toán thú vị là tìm hiểu những điểm khác biệt và những điểm tương đồng giữa tích phân thông thường trên các số thực và tích phân trên các số p-adic.

Một trong những phát hiện nổi bật của François Loeser, hợp tác với nhà toán học người Bỉ Jan Denef, là bằng cách sử dụng các tích phân p-adic, họ có thể chứng minh được các kết quả về hình học của các đa tạp đại số phức (tức là tập hợp các không điểm của các đa thức nhiều biến phức). « Đây là một điều thật kì lạ bởi vì các số phức và các số p-adic là hai thế giới hoàn toàn tách biệt. Thật đáng kinh ngạc là chúng ta có thể chứng minh được những kết quả trong lĩnh này dựa trên những kết quả trong lĩnh vực kia », François Loeser thổ lộ, « Ví dụ này là tâm điểm trong ý niệm cá nhân của tôi về toán học. Đây là nghệ thuật sử dụng các phép loại suy một cách thường xuyên liên tục ».

Tích phân motivic

Các nền tảng của tích phân motivic đã được xây dựng năm 1995 bởi Maxim Kontsevich. Đây là khái niệm khó hiểu đối với những người không phải là chuyên gia, nhưng ta có thể thử nêu ra một ý tưởng, François Loeser nhắc lại : « Trước khi lấy tích phân các hàm số, chúng ta hãy đo các tập hợp ». « Hai câu hỏi nảy sinh một cách tư nhiên là : chúng ta đo những tập hợp nào?độ đo là gì? Trong trường hợp thông thường, các tập hợp là những tập con của R^n và độ đo là một số thực dương. Nó có thể là bất kì số thực dương nào. Trong tích phân motivic, có một sự khác biệt về tính tự nhiên giữa cái chúng ta đo và nơi mà độ đo nhận giá trị. Các tập hợp được đo là các tập con của K^n, trong đó K là một trường các chuỗi hình thức, trong khi độ đo là một đối tượng hình học trên C, trường các số phức. Trước Kontsevich, người ta đã cố gắng xây dựng các độ đo giá trị thực trên các tập con của K^n. Ý tưởng cơ bản của Kontsevich là thay thế các số thực bằng một vành được xây dựng từ những đối tượng hình học phức. »

François Loeser đã có rất nhiều đóng góp cho sự phát triển của tích phân motivic, ban đầu cùng với Jan Denef sau đó là cùng với Raf Cluckers, một nhà toán học người Bỉ khác. Kỹ thuật mới này đã cho phép chứng minh nhiều kết quả được nêu ra trước đó trên các đa tạp đại số phức không sử dụng các số p-adic mà bằng cách dùng các chuỗi hình thức hệ số phức.

« Chúng tôi có xu hướng tin rằng để nghiên cứu một cái gì đó trên C chúng ta không nhất thiết phải ra khỏi C », François Loeser vui vẻ, « Ở đó, chúng tôi thấy rằng có thể hữu ích nếu xem các số phức như là một trường con của một trường lớn hơn : trường các chuỗi hình thức. Làm việc trên trường các chuỗi hình thức này, chúng tôi thu được các kết quả mà việc nghiên cứu trên C không có được ».

Tích phân motivic cũng cho phép thu được những kết quả về tính đơn điệu trên các tích phân p-adic khi p thay đổi.

Cuối cùng, một ứng dụng khác của tích phân motivic là sự liên hệ với Bổ đề cơ bản, một giả thuyết cốt yếu của Chương trình Langlands. Bổ đề cơ bản là một đẳng thức giữa hai hàm được định nghĩa bởi các tích phân. Gérard Laumon và Ngô Bảo Châu đã công bố một chứng minh trên các trường hàm (một tổng quát hóa của trường các phân thức hữu tỷ một biến). Sau đó, Jean-Loup Waldspurger (một nhà toán học Pháp nhận giải thưởng Clay năm 2010) đã chứng minh rằng nếu ta thừa nhận Bổ đề cơ bản trên các trường hàm, ta có thể suy ra Bổ đề cơ bản trên các trường p-adic. Tích phân motivic cho phép chứng minh lại một cách trực tiếp kết quả này của Waldspurger.

Lý thuyết mô hình

Trong các công trình của mình về tích phân motivic, François Loeser sử dụng Logic toán, nói một cách rõ ràng hơn, đó là một lĩnh vực của Logic toán thường được gọi là Lý thuyết Mô hình, đây là một cách trừu tượng để hiểu Đại số.

Nhà toán học Loeser lưu ý : « Đã luôn luôn có một sự hiện diện mạnh mẽ của thế giới phi-ácsimét và hình học trong các công trình của tôi ». Để có một ý tưởng, chúng ta đang nói theo quan điểm phi-ácsimét, ta phải quan tâm đến cấp của đại lượng hơn là độ đo chính xác. Trong hình học phi-ácsimét, mỗi tam giác là một tam giác đều.

François Loeser lưu ý : « Khi chúng ta nghiên cứu hình học trên trường phi-ácsimét, nếu ta có một cách tiếp cận ngây thơ, ta sẽ thu được những đối tượng gián đoạn khắp nơi và do đó không thể nghiên cứu ». « Ngược lại, bằng cách bổ sung các điểm vào các không gian này, chúng ta thu được, như đã thấy trong Vladimir Berkovich, các đối tượng có các tính chất tốt. Cùng với Ehud Hrushovski, chúng tôi đã nhận thấy rằng bằng cách sử dụng những tiến bộ của Lý thuyết mô hình, như tính ổn định, chúng tôi có thể chứng minh rằng các không gian Berkovich có các tính chất tôpô đẹp trong các trường hợp không được biết đến trước đó. »

Một nhà toán học cởi mở

Khi chúng tôi hỏi về những bài toán ông đang theo đuổi, François Loeser trả lời : « Tôi không cho mình là một chuyên gia giải toán (problem-solver). Tôi chưa bao giờ cảm thấy mình đang làm việc trên một bài toán được định sẵn từ trước, mà trên những kỹ thuật mới, những ý tưởng mới, để phát hiện ra, với chúng, tôi có thể thực hiện những điều thú vị ». Và khi chúng tôi hỏi về những công trình của ông có những ứng dụng gì, ông đáp lại « Có chứ, những ứng dụng vào toán học ».

François Loeser là một trong những nhà toán học ham hiểu biết, ông quan tâm đến hầu hết những nghiên cứu của các đồng nghiệp đang làm việc trên những vấn đề khác với những vấn đề của ông, thậm chí là trong các lĩnh vực khác. Ông tìm thấy ở đó những ứng dụng tiềm tàng cho công việc của mình cũng như những nguồn cảm hứng. « Tôi chưa bao giờ cảm thấy mình ở trong một lĩnh vực cố định. Hơn nữa, tôi rất vui nếu được mời đến dự các hội nghị mà ở đó các báo cáo hầu như không có sự liên quan với nhau. »

Sự tò mò, cởi mở về các chủ đề được biến đổi, đối với François Loeser, là những phẩm chất cốt lõi của một nhà toán học, để kết luận, ông thừa nhận một cách hài hước rằng « điều này có lẽ là khó khăn hơn cả để được thừa nhận bởi mỗi cộng đồng ».

* * * * *

Nội dung bản gốc

Classes préparatoires au lycée Louis-le-Grand, Ecole Normale Supérieure… François Loeser a suivi le parcours d’étudiant le plus classique pour devenir mathématicien. Entré au CNRS en 1985, il devient ensuite, en 1989, professeur à l’Université Pierre et Marie Curie, puis, depuis 2000, à l’ENS, dont il dirige le Département de mathématiques et applications (UMR 8553 du CNRS). En septembre 2010, il quittera l’ENS pour retrouver l’Université Pierre et Marie Curie et l’Institut de Mathématiques de Jussieu. Il vient de recevoir un Advanced Investigator Grant de l’European Research Council pour la période 2010-2014, une importante récompense au niveau européen.

A l’interface de quatre domaines

François Loeser a commencé sa carrière de chercheur en étudiant les singularités, c’est-à-dire, les points, dans une forme géométrique, où l’on observe une rupture (ces points singuliers sont par exemple les points de rebroussement d’une courbe, ou encore les points où une surface se coupe). Il s’est ensuite intéressé à l’étude des intégrales p-adiques, puis à l’intégration motivique, et enfin à la théorie des modèles. « D’un certain point de vue, je ne suis pas spécialiste d’un domaine donné mais à l’interface de quatre domaines : les singularités, la géométrie algébrique, la théorie des nombres et la théorie des modèles » explique-t-il avant d’ajouter : « Au cours de ma carrière, j’ai eu l’impression d’opérer des changements mais en fait, avec le recul, je me rends compte qu’il y a une unité dans tout ce que j’ai fait. Finalement, même si on augmente le champ des techniques utilisées, on reste sur les mêmes questions. »

Intégrales p-adiques

Classiquement, on calcule des intégrales en utilisant des nombres réels. En pratique, le calcul intégral sert, par exemple, à calculer des aires. En théorie des nombres, d’autres corps que le corps des réels sont apparus. Les corps p-adiques en font partie. (Ici, le p désigne un nombre premier.) Dans l’étude des intégrales, il peut être intéressant de chercher quelles sont les analogies et les différences entre le cas habituel, avec des réels, et le cas p-adique.

Une des découvertes principales de François Loeser, en collaboration avec le mathématicien belge Jan Denef, est qu’en utilisant des intégrales p-adiques, on pouvait démontrer des résultats sur la géométrie des variétés algébriques complexes (autrement dit les lieux des zéros des polynômes à plusieurs variables sur les nombres complexes). « C’est très étonnant car les nombres complexes et les nombres p-adiques sont deux mondes parallèles. Il est surprenant de démontrer grâce aux uns des résultats sur les autres », confie François Loeser. « Cet exemple est au cœur de ma vision personnelle des mathématiques. C’est l’art d’utiliser des analogies en permanence. »

Intégration motivique

Les bases de l’intégration motivique ont été posées en 1995 par Maxim Konsevitch. Ce concept est difficile à appréhender pour le non-spécialiste, mais on peut essayer de s’en faire une idée : « Avant d’intégrer des fonctions, on mesure des ensembles », rappelle François Loeser. « Deux questions qui se posent naturellement sont : quels sont les ensembles que l’on mesure ? et qu’est-ce que la mesure ? Dans le cas habituel, les ensembles sont des parties de Rn et la mesure, un nombre réel positif. Il s’agit donc à chaque fois de nombres réels. Dans l’intégration motivique, il y a une différence de nature entre ce que l’on mesure et là où se situe la mesure. Les ensembles mesurés sont des parties de Kn, où K est un corps de séries formelles, tandis que la mesure est un objet géométrique sur C, le corps des complexes. Avant Konsevitch, on essayait de faire des mesures à valeurs réelles sur ces ensembles de Kn. L’idée fondamentale de Konsevitch a été de remplacer les réels par un anneau construit avec des objets géométriques complexes. »

François Loeser a beaucoup contribué au développement de l’intégration motivique, d’abord avec Jan Denef puis avec Raf Cluckers, un autre mathématicien belge. Cette nouvelle technique a permis de démontrer les résultats évoqués précédemment sur les variétés algébriques complexes sans utiliser les nombres p-adiques mais en utilisant à leur place des séries formelles à coefficients complexes.

« On a tendance à croire que pour étudier quelque chose sur C, on n’a pas besoin de sortir de C », s’amuse François Loeser. « Là, on voit qu’il peut être utile de voir les nombres complexes comme faisant partie d’un corps plus grand : le corps des séries formelles. En travaillant sur ce corps des séries formelles, on obtient les résultats que l’on n’arrivait pas à démontrer sur C. »

L’intégration motivique permet également d’obtenir des résultats d’uniformité sur les intégrales p-adiques quand p varie.

Enfin, un autre exemple d’application de l’intégration motivique est en lien avec le Lemme Fondamental, une conjecture essentielle du programme de Langlands. Le Lemme Fondamental est une égalité entre deux fonctions définies par des intégrales. Il a été établi par Gérard Laumon et Bao Chau Ngo sur les corps de fonctions (qui sont une généralisation du corps des fractions rationnelles en une variable). Ensuite, Jean-Loup Waldspurger (mathématicien français qui a obtenu cette année le très prestigieux Prix Clay) a démontré que si on connaissait le Lemme Fondamental sur les corps de fonctions, on pouvait le déduire sur les corps p-adiques. L’intégration motivique permet de retrouver directement ce résultat de Waldspurger.

Théorie des modèles

Dans ses travaux sur l’intégration motivique, François Loeser utilise de la logique mathématique, et plus précisément un domaine de la logique mathématique qui s’appelle la théorie des modèles, et qui est une façon abstraite de comprendre l’algèbre.

« Il y a toujours eu une forte présence de l’univers non-archimédien et de la géométrie dans mes travaux », remarque le mathématicien. Pour se faire une idée, disons que selon le point de vue non-archimédien, on s’intéresse aux ordres de grandeur plutôt qu’aux mesures exactes. En géométrie non-archimédienne, tous les triangles sont isocèles.

« Quand on fait de la géométrie sur un corps non-archimédien, si on a une approche trop naïve, on se retrouve avec des objets totalement discontinus et donc impossibles à étudier » remarque François Loeser. « En revanche, en ajoutant des points à ces espaces, on obtient, comme l’a observé Vladimir Berkovich, des objets qui ont de bonnes propriétés. Avec Ehud Hrushovski, on s’est aperçu qu’en utilisant de la théorie des modèles très avancée, comme la stabilité, on pouvait démontrer que les espaces introduits par Berkovich ont de bonnes propriétés topologiques dans des cas non connus auparavant. »

Un mathématicien ouvert

 

Quand on lui demande sur quels problèmes il travaille, François Loeser répond : « Je ne me considère pas comme un problem-solver. Je n’ai jamais l’impression de travailler sur un problème déterminé à l'avance mais plutôt sur de nouvelles techniques, de nouvelles idées, pour découvrir que l’on peut faire des choses intéressantes avec. » Et si on lui demande si ses travaux ont des applications, il rétorque : « Oui, des applications aux mathématiques. »

François Loeser fait partie de ces mathématiciens curieux, qui s’intéressent de près aux recherches de leurs collègues travaillant sur d’autres problèmes que les leurs, voire dans d’autres domaines. Il y trouve aussi bien des applications potentielles pour ses travaux que des sources d’inspiration. « Je ne me suis jamais senti à l’intérieur d’une discipline fixe. Je suis d’ailleurs très content d’être invité à des conférences dont les publics n’ont presque pas d’intersection entre eux. »

Curiosité, ouverture à des thématiques variées sont pour François Loeser des qualités essentielles chez un mathématicien même si, pour conclure, il admet avec humour que « cela rend peut-être plus difficile d'être reconnu par chaque communauté. »

[ Chung ] 03 March, 2011 20:09

(viết tặng bà và mẹ nhân ngày 8/3)

Mình luôn nghĩ mình là người ngu nhất trong những người học Toán, là người vụng về nhất trong tình yêu và đần nhất trong cuộc sống. Nhưng mình tự hào vì là con của bố mẹ mình. Cảm ơn bố mẹ đã cho mình ra đời để mình thấy được thế giới này thật phong phú và thấy được mình còn nhiều kém cỏi. Chúc mừng ngày 1/3 và ngày 8/3!

Có lần mẹ mình bảo, nếu mà bố mày lấy bác L. thì chắc mày sướng hơn mày bây giờ, vì bác ấy tháo vát hơn mẹ. Mình biết là mẹ mình nhầm. Nếu mà bố mình lấy bác ấy, sẽ có một thằng khác ra đời chứ không phải mình. Hơn nữa thằng ấy hẳn sẽ rất xấu giai vì mẹ mình phải xinh gấp 10 lần bác L. (Bác L. cũng xinh nhưng mẹ mình chắc là xinh nhất làng.) Một lần khác mẹ lại bảo, nếu mà mẹ và bố mày cưới nhau và đẻ mày ngay thì bây giờ mày lớn lắm rồi ấy chứ và mày sẽ trưởng thành hơn bây giờ, bố mẹ cũng nhàn hơn. Mình biết mẹ chỉ đúng một phần. Bởi vì nếu đẻ ngay thì thằng ra đời lại là một thằng khác chứ vẫn không phải mình, thằng ấy sẽ thiệt thòi hơn nhiều vì nó sẽ sinh năm 76, đơn cử chuyện biết thế nào là internet, mình biết khi đã 20 tuổi thì thằng ấy chắc phải 25 tuổi nó mới biết vào mạng. Ý có thể đúng của mẹ mình là bố mẹ mình có thể nhàn hơn, bởi vì có thể thằng ấy nó không thích học hành gì như bọn cùng trang lứa ở quê và thế là bố mẹ đỡ phải nuôi thằng ấy học đại học và cao học.

Hồi ấy bố mình công tác trên Hà Nội, mỗi tháng về thăm mẹ một lần. Trong một lần như thế vào mùa hè, mình đã có cơ hội ra đời, và sự thật là mình đã ra đời vào mùa xuân.

Hồi bé mẹ mình đánh mình nhiều nhất.

-         Cứ đánh ông đi, mai kia lớn lên ông khỏe hơn ông sẽ đánh lại!

-         Á à, mày dám xưng « ông » với tao hả?

-         Ừ đấy!

-         Ông này, ông này, … (véo véo, vút vút, vèo vèo, …)

-         Oe oe oe, oa oa oa, … (khóc kiểu … Bác Hồ)

Một lần đi chơi về muộn.

-         Đi chơi nữa đi, hôm nay không cho ăn cơm nữa, đi chơi no rồi nhỉ?! (mẹ)

-         Người ta đếch cần, không cho ăn thì thôi!

-         Ah thằng này láo quá, mày xưng « người ta » với ai đấy? (mẹ)

-         Xưng vu vơ thôi.

-         Mày là mày hư lắm đấy con nhé, mẹ nó đâu, cho nó ăn mấy roi cho nó chừa đi! (bố)

-         Sao bố nó không đánh mà lại bảo tôi? (mẹ)

-         Được rồi, mày cứ ăn cơm đi con, ăn xong thì leo lên giường chờ ăn roi! (bố)

-         Còn lâu nhé!

Có một số lần mẹ mình đánh mình không thành công. Mẹ cầm roi giơ lên để vụt mình thì bà nội cầm một cái roi khác lên và bảo « Mẹ nó mà đánh nó thì tao sẽ đánh mẹ đấy! ». « Bà cứ kệ con, con phải dạy cho thằng này nên người mới được! ». « Không được, đưa cái roi đây, nó còn bé thế kia cơ mà, khổ thân thằng bé! ». Bà mình thương mình nhất nên ngày nào mình cũng ngủ với bà. Đêm nào bà cũng kể chuyện. Mình thì chẳng bao giờ nghe hết câu chuyện, được một đoạn thì đã ngủ mất tiêu rồi. Khổ thân bà cứ lẩm bẩm một mình.

Đối với bà thì đứa cháu nào bà cũng thương hết. Bà còn thương cả những con gà, con ngan, thương con bò, con chó. Mẹ mình mà đánh con bò thì cũng bị bà mắng. Ông mình đánh con ngỗng cũng bị bà mắng. Bà còn thương cả quả mướp nữa ấy chứ, hôm hái mướp nấu canh bà cứ tiếc mãi. Đặc biệt bà thương nhất con mèo, nấu ăn riêng cho nó, đêm lạnh còn cho nó vào trong chăn ngủ cùng, cho nên bà cũng hay bị mắng lắm.

Bà nội mất cuối năm 2009 khi mình đang ở Paris, bà ra đi thanh thản chưa từng thấy.

Bà ngoại cũng hay mắng mẹ mình mỗi khi thấy mẹ mắng mình. Bà ngoại thì hiền cực kì nên bà bị tất cả mọi người bắt nạt, từ các cậu cho đến các cháu nội. Dạo này bà ngoại bị lẫn, trưa nào cũng đi lang thang không ai tìm được, rồi thì cứ lấy kéo cắt hết quần áo trong tủ khiến các cậu khiếp vía định nhốt bà lại. Mẹ mình và các dì đến mắng các cậu một trận nên bà vẫn được tự do. Hồi hè mình về quê, bà nhầm mình với ba người: hôm thì mình là mình, hôm khác mình là bố mình, hôm khác nữa thì mình là bác Tuynh (đẹp giai) hoặc bác Tiến (rất đẹp giai).

Nhớ lại mấy chuyện này thấy thương các bà và bố mẹ quá … Tháng Ba về.

1 2 3  Sau»